vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Hoàng H 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - ngày 15 tháng 10…

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Bùi Hoàng H số tiền là 5.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu đồng). Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng H - MUa bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Hoàng H 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - ngày 15 tháng 10…
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 27-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Lẫy

Bà Hoàng Thị Chính.

.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 07/TB-TA ngày 13 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Bùi Hoàng H, sinh ngày 03/11/1993 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 7 B274, Tổ 3 (cũ là Tổ 8), phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Ngõ 92 đường P, tổ Đ 1, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân C và bà Hoàng Thị Mai V; có vợ là Nguyễn Thị Thu T và 02 con; tiền án: Tại bản án số 504/2020/HSST ngày 11/11/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2022 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/10/2022 đến ngày 21/10/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Hữu D, sinh năm 1995; cư trú tại tổ T 3, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đinh Xuân Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 15/10/2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Kiến An bắt quả tang Bùi Hoàng H đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vũ Hữu D tại khu vực trước cửa kho hàng xăng dầu Việt Phương thuộc tổ Mỹ Khê Đông, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiếp hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ gồm: thu giữ trong cốp phía trước xe mô tô, BKS: 15N1 - 18186 do H điều khiển 01 túi nilon kích thước 6x9,5cm bên trong chứa 03 điếu thuốc cuộn màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 1); số tiền 500.000 đồng; thu giữ của H 01 điện thoại cảm ứng màu vàng, 01 xe mô tô BKS 15N1 - 18186; thu giữ của D 01 điện thoại Nokia.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Hoàng H tại ngõ 92 đường P, tổ Đ 1, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 557/KL-KTHS(MT) ngày 18/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: “Thảo mộc khô vụn mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,85 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa)”.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy. Kết quả, Bùi Hoàng H âm tính với các chất ma túy; Vũ Hữu Duy dương tính với chất ma túy Methamphetamine và THC.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Hoàng H và Vũ Hữu D khai nhận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 15/10/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D gọi điện thoại cho H hỏi mua 03 điếu cần sa, H đồng ý và thống nhất giá bán là 100.000 đồng/1 điếu cần sa. Sau đó, H và D hẹn địa điểm giao dịch mua bán ma túy tại khu vực trước cửa kho hàng xăng dầu Việt Phương thuộc tổ Mỹ Khê Đông, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. H mang theo 03 điếu cần sa và cất giấu trong cốp phía trước xe mô tô, BKS: 15N1 – 181.86 rồi một mình điều khiển xe mô tô này đến địa điểm bán ma túy. Đến nơi, H dừng xe trước cửa kho hàng xăng dầu Việt Phương thì gặp D. D đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trả tiền mua ma túy. Do không có tiền trả lại nên H bảo D ra cây xăng để đổi tiền lẻ. Đúng lúc này, H và D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. H khai nguồn gốc 03 điếu cần sa mua của một người đàn ông không quen biết ở bờ đê phường C, quận H, thành phố Hải Phòng với giá 80.000 đồng/1 điếu vào sáng ngày 15/10/2022. Mục đích H mua ma túy là để bán kiếm lời. Số tiền 500.000 đồng bị cơ quan Công an thu giữ là của D do lao động mà có, D chỉ sử dụng 300.000 đồng vào việc mua ma túy, số tiền 200.000 đồng còn lại D sẽ sử dụng để chi tiêu cá nhân. Chiếc điện thoại Nokia là của D, còn chiếc điện thoại cảm ứng màu vàng là của H. H và D đã sử dụng 02 chiếc điện thoại này vào việc mua bán ma túy.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Hoàng H về tội Mua bán trái phép chất mà túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An giữ quyền công tố luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Cụ thể:

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù;

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy của vụ án còn lại sau giám định.

Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại cảm ứng màu vàng thu giữ của Bùi Hoàng H, 01 điện thoại Nokia thu giữ của Vũ Hữu D, số tiền 300.000 đồng là tiền Vũ Hữu D sử dụng để mua ma túy.

Trả lại Vũ Hữu D số tiền 200.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên; bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 18 giờ 05 phút ngày 15/10/2022, tại khu vực trước cửa kho hàng xăng dầu Việt Phương thuộc tổ Mỹ Khê Đông, phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Bùi Hoàng H đã thực hiện hành vi bán trái phép 03 điếu cần sa có khối lượng 0,85 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa) với giá 300.000 đồng cho Vũ Hữu D nhằm mục đích kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Cần sa là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội nằm trong Danh mục I, STT 45 ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.

Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ vào khối lượng cần sa bị cáo cất giữ để bán và các tình tiết khác của vụ án, xác định hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm, nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án về tội Hủy hoại tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt chính:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phạt tiền bị cáo mức thấp nhất là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thư, niêm phong số 557MT/PC09 bên trong có chứa số ma túy của vụ án còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Đối với 01 điện thoại cảm ứng màu vàng thu giữ của Bùi Hoàng H và 01 điện thoại Nokia thu giữ của Vũ Hữu D đã qua sử dụng là công cụ bị cáo và D dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu và nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Vũ Hữu D. D khai đây là tiền do D lao động mà có, D chỉ sử dụng 300.000 đồng vào việc mua ma túy, số tiền 200.000 đồng còn lại D sẽ sử dụng để chi tiêu cá nhân. Vì vậy, cần tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 300.000 đồng, số tiền còn lại 200.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho D theo điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô BKS 15N1 – 18186: Qua xác minh xác định xe mô tô là tài sản của anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1988; trú tại số 5B245, Tổ 8, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng - là anh vợ của Bùi Hoàng H) mua của anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1996; trú tại Tổ 1 phố T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng) vào năm 2018. Đầu tháng 10/2022, anh H cho H mượn để làm phương tiện đi lại, anh H không biết Hiền sử dụng xe để đi bán ma túy. Tiến hành kiểm tra xác định xe không nằm trong danh sách vật chứng, kiểm tra số khung, số máy xe mô tô BKS 15N1 - 18186 là số nguyên thủy của nhà sản xuất. Tiến hành xác minh tại Công an phường T, anh T hiện vắng mặt tại địa phương. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn H nên Hội đồng xét xử không phải xử lý.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với việc Vũ Hữu D dương tính với chất ma túy Methamphetamine và THC, do D không nhớ thời gian và địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi Vũ Hữu D mua 03 điếu cần sa mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân. Do không đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an quận Kiến An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D về hành vi này.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H ở bờ đê phường C, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Hoàng H 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - ngày 15 tháng 10 năm 2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Bùi Hoàng H số tiền là 5.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự,

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì giấy được niêm phong có dấu niêm phong số 557MT/PC09.

- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại cảm ứng màu vàng thu giữ của Bùi Hoàng H; 01 điện thoại Nokia và số tiền 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Vũ Hữu D.

- Trả lại Vũ Hữu D số tiền 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng);

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo Bùi Hoàng H phải nộp 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ