vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lê Tùng N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tùng N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Tùng N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 22-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Minh – Cán bộ nghỉ hưu

Bà Nguyễn Minh Hằng – Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

- Lê Tùng N, S ngày 29/3/2005 tại Hải Phòng (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 01 ngày). ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A (nay là thôn VV), xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lê Văn T và con bà Vũ Phương T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 30/9/2022 đến ngày 08/10/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Tùng N: Ông Lê Văn Đ, S năm 1960; địa chỉ: Xóm X, thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng – Là ông nội của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Lê Tùng N: Bà Cù Thúy M – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Ngô Văn S; vắng mặt;

- Ông Lê Hữu H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 30/9/2022, Ngô Văn S, S năm: 2005; Chỗ ở: số X, T, H, Hải Phòng đi xe mô tô BKS 16P4-5387 chở Lê Tùng N đến khu vực ngõ 580 đường Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận Hải An, TP Hải Phòng thì bị Tổ công tác của Công an quận Hải An thấy nghi vấn nên dừng xe để kiểm tra. Trong quá trình dừng xe để kiểm tra, N dùng chân phải hất vỏ bao thuốc lá Thăng Long để ở giá để chân bên phải xe mô tô xuống đất thì bị Tổ công tác phát hiện, thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 túi nilon kích thước 2x2 cm trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon trong có chứa 03 viên thuốc “lắc” màu tím hình đầu lâu và 01 xe mô tô BKS 16P4-5387. Cơ quan Công an đã đưa S, N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Tràng Cát lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 509/KL-KTHS(MT) ngày 04/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: 01 túi nilon kích thước 2x2 cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,69 gam là loại Ketamine; 03 viên nén màu tím là ma túy, có khối lượng 1,22 gam, loại MDMA.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Tùng N khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/9/2022, Lê Tùng N đi xe đạp từ nhà ở thôn An Dương, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng sang khu vực gầm cầu Quay, Lê Chân, Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi mua 03 viên thuốc “lắc” và 01 gam Ketaminne với giá 1.500.000 đồng. Người đàn ông đưa cho N 01 túi nilon trong có chứa 03 viên thuốc “lắc” màu tím hình đầu lâu và 01 túi nilon kích thước 2 x 2cm trong có chứa tinh thể màu trắng. N cầm số ma túy mua được mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Ngô Văn S đi xe mô tô BKS 16P4-5387 đến nhà N chơi. N rủ S đi sang khi vực nội thành chơi, S đồng ý. Trước khi đi, N lấy số ma túy đã mua được cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi để ở giá để chân phía sau bên phải xe mô tô của S với mục đích có cơ hội thì sử dụng một mình. S chở N đi chơi loanh quanh các tuyến phố. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 30/9/2022, khi S chở N đi đến khu vực ngõ 580 đường Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác của Công an quận Hải An thấy nghi vấn nên dừng xe để kiểm tra đã phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 11/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Tùng N về tội "Tàng trữ trái pháp chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo: Lượng ma túy bị cáo cất giấu trái phép để sử dụng mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố là 1,22 gam, loại MDMA và 0,69 gam, loại Ketamine. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên là 27,85%. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Tùng N: Từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 bì thư niêm phong số 509MT/PC09 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định thu giữ của Lê Tùng N. Đối với 01 xe mô tô 16P4-5387 thu giữ của Ngô Văn S, S khai mượn của ông Ngô Văn Bình (là bố đẻ của S) vào tối ngày 30/9/2022 để đi chơi. Qua trình điều tra xác định ông Bình là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe không biết và liên quan đến hành vi phạm tội của N nên Cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Bình.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Tùng N chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn S có hành vi điều khiển xe mô tô chở N nhưng không biết N cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị. Với tính chất khoan hồng, nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, răn đe bị cáo, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho bị cáo, mặt khác bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội mới 17 tuổi 06 tháng 01 ngày nên chưa hoàn thiện bản chất, nhận thức hạn chế, nghe theo bạn bè, bị ảnh hưởng bởi mạng xã hội nên tò mò mua về sử dụng, hoàn cảnh gia đình của bị cáo nên đã tác động đến tâm lý và dễ bị lôi kéo phạm tội và dẫn đến hậu quả ngày hôm nay. Bị cáo bị cáo phạm tội lần đầu, giản đơn, thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 đối với bị cáo để áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình trở thành người công dân có ích cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tùng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 30/9/2022, tại khu vực ngõ 580 đường Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Tổ công tác của Công an quận Hải An thấy nghi vấn nên dừng xe mô tô BKS 16P4-5387 do Ngô Văn S điều khiển chở đằng sau là Lê Tùng N. Trong quá trình dừng xe để kiểm tra, N dùng chân phải hất vỏ bao thuốc lá Thăng Long để ở giá để chân bên phải xe mô tô xuống đất thì bị Tổ công tác phát hiện, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 túi nilon kích thước 2 x 2 cm trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon trong có chứa 03 viên thuốc “lắc” màu tím hình đầu lâu. Số ma túy này N khai: Do tò mò nên đã lên mạng Internet tìm hiểu và đi mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gầm cầu Quay, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với giá 1.500.000 đồng nhằm mục đích cho bản thân sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Tùng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung và là nguyên nhân phát S các loại tội phạm khác. Do đó, cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Lê Tùng N có hành vi cất giấu trái phép 1,22 gam, loại MDMA; và 0,69 gam, loại Ketamine nhằm mục đích cho bản thân sử dụng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định: “….Nếu tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì tổng khối lượng các chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự”. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy N cất giấu trái phép là 27,85%. Do đó, bị cáo bị xét xử theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo cần xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cần nhẹ hơn mức hình phạt đối với bị cáo trên 18 tuổi theo quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự cũng đủ đảm bảo tính tính giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Lê Tùng N chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bằng bì thư có dấu niêm phong số 509MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong có số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của Lê Tùng N: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Hải An đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại: 01 xem máy nhãn hiệu YAMAHA BKS 16P4-5387 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Văn Bình, S năm 1983, địa chỉ: Số 21/172 Cát Linh, phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N, hiện Cơ quan điều tra Công an quận Hải An chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn S có hành vi điều khiển xe mô tô chở N nhưng không biết N cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa của bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Lê Tùng N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 509MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Tùng N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ