- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Lưu Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Lưu Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán tr…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm h nh sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS-ST Ngày 30 – 03 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm
Ông Phương Văn Tư
Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 03 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án h nh sự thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023 QĐXXST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 đối v i các ị cáo:
1. Lưu Văn T; Sinh ngày 21 tháng 02 năm 1984 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Tr nh độ học vấn: 09 12; Dân tộc: Nùng; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn N (Đã chết) và à Bào Thị S, sinh năm 1946; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1984; Bị cáo có 02 con, con l n sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10 2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
2. Lưu Văn L; Sinh ngày 22 tháng 02 năm 1996 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Tr nh độ học vấn: 12 12; Dân tộc: Nùng; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn H, sinh năm 1968 và à Hứa Thị X, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10 2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
Những người làm chứng:
- Lưu Văn H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
- Tiêu Văn T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 10 phút ngày 24/10 2022 tổ công tác Công an huyện T phối hợp v i Công an xã N, huyện T và Đồn Biên phòng N, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện một nhóm người tụ tập có iểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thấy hai đối tượng là Lưu Văn T và Lưu Văn L đang ngồi ăn cơm. Qua kiểm tra phát hiện và tạm giữ trong túi quần phía trư c ên trái của T đang mặc 01 gói nhỏ được gói ằng nilon màu xanh, ên trong có 01 gói nhỏ được gói ằng giấy ạc màu vàng, trong cùng là các cục chất ột màu trắng, T khai là ma túy, loại heroine và số tiền 200.000 đồng.
Kiểm tra phát hiện và tạm giữ trong túi quần phía trư c ên trái của Lưu Văn L 01 ao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu GOLD LION, ên trong ao thuốc có 01 gói nhỏ giấy ạc màu vàng chứa các cục chất ột màu trắng, L khai là ma túy, loại heroine; 01 điện thoại di động màn h nh cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen và số tiền 400.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Văn T phát hiện và tạm giữ 01 điện thoại di động màn h nh cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 dao lam trên tủ đựng át đũa; 01 dao lam trên àn trong uồng ngủ có ám dính chất ột màu trắng.
Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, ị cáo Lưu Văn T khai nhận, ản thân nghiện ma túy. Nguồn gốc số ma túy ị thu giữ là sáng ngày 24 10 2022 T điều khiển xe mô tô BKS 11K1-128.93 từ nhà đến xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng mua v i một người đàn ông không rõ lai lịch v i giá 1.100.000 đồng, mục đích để ản thân sử dụng và án lại kiếm lời. H nh thức giao dịch là người mua gọi điện thoại trư c cho ị cáo hoặc đến nhà gặp trực tiếp ị cáo để mua ma túy. Từ tháng 8 2022 ị cáo Lưu Văn T đã được án ma túy cho những người sau:
Bán cho Tiêu Văn T là người cùng xóm 02 lần, mỗi lần 100.000 đồng;
Bán cho Lưu Văn H là người cùng xóm 03 lần, trong đó 02 lần mỗi lần án 100.000 đồng, 01 lần án 200.000 đồng;
Ngoài ra T còn được án cho nhiều người khác nhưng không iết họ tên, địa chỉ.
Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa ị cáo Lưu Văn L khai ản thân sử dụng ma túy từ cuối năm 2021. Nguồn gốc số ma túy ị thu giữ là sáng ngày 24/10/2022 L lên xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng nhờ một người đàn ông không quen iết mua ma túy v i số tiền 1.000.000 đồng, L trả tiền công cho người đó 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L sử dụng một ít, còn lại L gói lại mang về nhà. Trưa ngày 24 10 2022 L lên nhà T ăn cơm th ị Công an ắt quả tang.
Ngày 24/10 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất ột màu trắng thu giữ của ị cáo Lưu Văn T có khối lượng là 0,73 gam, của ị cáo Lưu Văn L có khối lượng 0,53 gam. Tại Bản kết luận giám định số 343/GĐMT ngày 31/10 2022 của phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận “02 (Hai) Mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 (Hai) phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine”. Các ị cáo đều nhất trí v i kết quả cân khối lượng xác định vật chứng vụ án và Kết luận giám định.
Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSTK ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng truy tố ị cáo Lưu Văn T về tội “Mua án trái phép chất ma túy” theo điểm khoản 2 Điều 251 Bộ luật h nh sự. Truy tố ị cáo Lưu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật h nh sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Mua án trái phép chất ma túy”, bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm h nh sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật h nh sự xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 07 (Bảy) đến 08 (Tám) năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật h nh sự xử phạt bị cáo Lưu Văn L từ 01 (Một) đến 02 (Hai) năm tù.
Không đề nghị áp dụng h nh phạt bổ sung đối v i các ị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án là chất ma túy còn lại sau giám định, 02 dao lam của ị cáo Lưu Văn T; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nư c 01 điện thoại di động của ị cáo Lưu Văn T, 01 điện thoại di động của ị cáo Lưu Văn L; ½ Giá trị xe mô tô BKS 11K1-128.93 nhãn hiệu Yamaha Sirius đã qua sử dụng; Trả lại cho ị cáo Lưu Văn T số tiền 200.000 đồng (nhưng đề nghị tạm giữ để đảm ào thi hành án); Trả lại cho ị cáo Lưu Văn L số tiền 400.000 đồng; Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N ½ giá trị chiếc xe mô tô BKS 11K1-128.93 nhãn hiệu Yamaha Sirius đã qua sử dụng.
Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử truy thu đối v i ị cáo Lưu Văn T số tiền 600.000 đồng thu lợi ất chính từ việc án ma túy.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử uộc các bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến tranh luận v i bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, ị cáo Lưu Văn T đã iết hành vi của m nh là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt để ị cáo được s m trở về v i gia đ nh và xã hội. Bị cáo Lưu Văn L không có ý kiến g .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Công an huyện Trùng Khánh; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh trong quá tr nh điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự. Các ị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đối v i những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trư c đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra về những vấn đề liên quan đến nội dung vụ án. Kiểm sát viên và các bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng h nh sự.
Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Căn cứ lời khai của các ị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp v i các vật chứng thu giữ; Biên ản ắt người phạm tội quả tang; Biên ản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng vụ án; Bản kết luận giám định; Biên ản ghi lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/10 2022 ị cáo Lưu Văn T đã ị ắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,73 gam heroine, mục đích ản thân sử dụng và án kiếm lời. Bị cáo T đã án ma túy 05 lần cho 02 người, thu lợi ất chính số tiền 600.000 đồng. Bị cáo Lưu Văn L ị ắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,53 gam heroine, mục đích để ản thân sử dụng.
Hành vi của ị cáo Lưu Văn T đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua án trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật h nh sự. Hành vi của ị cáo Lưu Văn L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật h nh sự. Do vậy, ản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh truy tố các bị cáo ra trư c Tòa án là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các ị cáo là rất nghiêm trọng, được thực hiện v i lỗi cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nư c về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các ị cáo iết hành vi của m nh là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng mức h nh phạt nghiêm khắc, tương xứng v i tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các ị cáo đều có nhân thân xấu, nghiện ma túy.
Các ị cáo không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự.
Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự. Ngoài ra, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc iệt khó khăn nên được hưởng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh sự.
Hình phạt bổ sung: Các ị cáo đều làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng h nh phạt ổ sung là h nh phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật h nh sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h nh sự.
- Đối v i các vật chứng là chất ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định, là chất Nhà nư c cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối v i 02 dao lam của ị cáo Lưu Văn T, trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa xác định 01 dao lam ị cáo sử dụng vào việc phạm tội là vật chứng vụ án, 01 dao lam ị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối v i 01 điện thoại di động của ị cáo Lưu Văn T và 01 điện thoại di động của ị cáo Lưu Văn L, trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa xác định các ị cáo đều sử dụng điện thoại để liên lạc mua án ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nư c;
- Đối v i số tiền 200.000 đồng của ị cáo Lưu Văn T và số tiền 400.000 đồng của ị cáo Lưu Văn L, trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các ị cáo, nhưng cần tạm giữ số tiền 200.000 đồng của ị cáo Tuấn để đảm ảo thi hành án;
- Đối v i xe mô tô BKS 11K1-128.93 nhãn hiệu Yamaha Sirius đã qua sử dụng, giấy tờ xe mang tên ị cáo Lưu Văn T, trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thuộc quyền sở hữu chung của ị cáo Lưu Văn T và vợ ị cáo là à Hoàng Thị N. Bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy à N không iết nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nư c ½ giá trị chiếc xe mô tô và trả lại cho à Nghi ½ giá trị chiếc xe mô tô.
Các vấn đề khác:
Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa xác định được ị cáo Lưu Văn T đã được án ma túy 05 lần cho 02 người, thu lợi ất chính 600.000 đồng nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nư c.
Về các đối tượng nghiện ma túy đã mua ma túy v i ị cáo để sử dụng, hành vi không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định số: 167 2013 NĐ-CP ngày 12 11 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống ạo lực gia đ nh. Công an huyện Trùng Khánh cần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối v i các đối tượng trên để đảm ảo phòng ngừa chung.
Về người đàn ông đã án ma túy cho ị cáo T và người đàn ông mua hộ ma túy cho ị cáo L, trong quá tr nh điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên Hội đồng xét xử không có đủ căn cứ để xử lý trong vụ án. Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định pháp luật khi có có đủ căn cứ chứng minh.
Về án phí: Các ị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các ị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp v i nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm h nh sự:
Tuyên ố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Mua án trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật h nh sự. Xử phạt ị cáo Lưu Văn T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 24/10/2022.
Tuyên ố ị cáo Lưu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật h nh sự. Xử phạt ị cáo Lưu Văn L 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 24/10/2022.
Không áp dụng h nh phạt ổ sung đối v i các ị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h nh sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong thư niêm phong, mặt trư c phong ghi: “Vật chứng vụ Lưu Văn L – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 24/10 2022 tại: xóm L, xã N, huyện T, Cao Bằng”. Mặt sau phong niêm phong trên có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) h nh dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
+ 01 (một) phong thư niêm phong, mặt trư c phong ghi: “Vật chứng vụ Lưu Văn T – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 24/10/2022 tại: xóm L, xã N, huyện T, Cao Bằng”. Mặt sau phong niêm phong trên có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 ( ốn) h nh dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
+ 01 (Một) phong thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ghi: “Dao lam phát hiện, thu giữ trong uồng ngủ của Lưu Văn T, ngày 24 10 2022, mặt sau phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đống 04 ( ốn) h nh dấu đỏ của Ủy an nhân dân xã N, huyện T.
+ 01 (Một) phong thư đã được niêm phong, mặt trư c phong ghi: “Dao lam phát hiện, thu giữ trên tủ gỗ đựng át đũa trong gian ếp của Lưu Văn T, ngày 24/10/2022, mặt sau phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đống 04 ( ốn) h nh dấu đỏ của Ủy an nhân dân xã N, huyện T.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nư c:
+ 01 điện thoại di động ên trong 01 (một) phong thư niêm phong lại, mặt trư c ghi: “01 (một) điện thoại di động tạm giữ đối v i Lưu Văn Tuấn ngày 24 10 2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia iên ản và đóng 04 ( ốn) h nh con dấu mực đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
+ 01 điện thoại di động ên trong 01 (một) phong thư niêm phong lại, mặt trư c ghi: “01 (một) điện thoại di động tạm giữ đối v i Lưu Văn L ngày 24 10 2022”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia iên ản và đóng 04 ( ốn) h nh con dấu mực đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;
+ ½ Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn xám đen, iển kiểm soát 11K1-128.93, xe đã qua sử dụng.
- Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn xám đen, iển kiểm soát 11K1-128.93, xe đã qua sử dụng.
- Trả lại cho ị cáo Lưu Văn T và số tiền 200.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm ảo thi hành án.
- Trả lại cho ị cáo Lưu Văn L số tiền 400.000 đồng.
(Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2023).
3. Truy thu nộp ngân sách Nhà nư c số tiền 600.000 đồng đối v i ị cáo Lưu Văn T, do ị cáo thu lợi ất chính từ hành vi phạm tội.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các ị cáo Lưu Văn T, Lưu Văn L phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm mỗi ị cáo 200.000đ (Hai trăm ngh n đồng) nộp ngân sách nhà nư c.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng h nh sự. Các ị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị N có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của m nh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã N; - Các ị cáo; - Lưu HSVA, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nông Thanh Lịch |