- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS-ST Ngày 18 -5- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình;
Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thúy, Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện T: Vụ án án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Văn L, sinh ngày 20 tháng 12 năm 19xx tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Số 8/21 đường Đ, phường M, Quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Văn V (đã chết) và bà Đỗ Thị P; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: Bản án số 174/2005/HS-ST, ngày 28/7/2005 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Đoàn Văn L 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích.
Bản án số 50/2009/HS-ST, ngày 27/3/2009 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Đoàn Văn Linh 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 28/10/2022 đến ngày 03/11/2022 chuyển sang tạm giam đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn L có hai người bạn nghiện cùng sử dụng ma túy đá (Methamphetamine) tên là T ở khu vực ngã ba Đình Vũ, quận Hải An và Hướng ở khu vực C xã Q, huyện T. Sáng ngày 28/10/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16H8-8161 của T đến rủ L cùng về huyện T xin ma túy của H về sử dụng. L đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16H8-8161 chở T. Khi đến khu vực Cầu M, thị trấn T, huyện T, T xuống xe, còn L điều khiển xe mô tô đến C, xã Q, huyện T gặp H. Tại đây, H đưa cho Linh 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá, L cầm ma tuý để vào trong mũ lưỡi trai màu đỏ rồi đội mũ lên đầu và điều khiển xe mô tô đi đến khu 2 thị trấn T thì bị Công an huyện T kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước 14 x 8,4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ.
Khám xét khẩn cấp nơi cư trú của Đoàn Văn L ở số 8/21 đường Đà Nẵng, phường Máy Tơ, Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án .
Tại Kết luận giám định số 589/KL-KTHS (MT) ngày 31/10/2022, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,06 gam, loại Methamphetamine”.
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hải Phòng, kết luận: Đoàn Văn L dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 07/4/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Đoàn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Đoàn Văn L đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai: T và H là bạn cùng nghiện ma tuý, nhưng L không biết rõ lai lịch, địa chỉ của T và H, mà chỉ biết H hay đứng ở khu vực Cầu C, xã Q, nên L và T mới đến xin ma tuý của H. Sáng ngày 28/10/2022 T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16H8-8161 đến nhà L rủ L đi về huyện Tiên Lãng gặp H để xin ma túy về sử dụng; xe mô tô biển kiểm soát 16H8-8161 là của T giao cho L đi xin ma túy. Số ma tuý Cơ quan Công an thu giữ là của L cất giấu để sử dụng.
Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 16/CT-VKS, ngày 07/4/2023 truy tố Đoàn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt Đoàn Văn L từ 24 đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 5 Điều 249 BLHS, phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, nộp vào ngân sách nhà nước. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,93gam ma túy, loại Methamphetamine) và 01 mũ lưỡi trai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Văn L là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu được và kết luận giám định. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi ngày 28/10/2022 của bị cáo Đoàn Văn L xin của người khác 1,06 gam ma túy, loại Methamphetamine rồi cất giấu trái phép để sử dụng là phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện trên địa bàn - nguồn gốc gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 02 tiền án, trong đó tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích; còn tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích (do bị cáo chưa thi hành hình phạt tiền là hình phạt bổ sung) nên lần phạm tội ngày 28/10/2022 bị coi là tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng, bị cáo đã nhiều lần bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt trên mức khởi điểm mà Kiểm sát đề nghị mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được địa chỉ của hai người đàn ông tên T và H, nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 5 Điều 249 BLHS, xét thấy cần phạt bị cáo 5.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về vật chứng: Số ma túy (Methamphetamine) Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo đã được lấy ra 01 phần, còn lại 0,93 gam đã được niêm phong trong 01 phong bì do cơ quan giám định hoàn lại, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và 01 mũ lưỡi trai của Linh, không còn giá trị sử dụng. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16H8-8161, L khai là xe của T. Tuy nhiên, đến nay chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan điều tra đã tách ra, xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Văn L phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
1. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 28/10/2022.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đoàn Văn L 5.000.000 (Năm triệu) đồng, nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,93 gam ma túy, loại Methamphetamine) và 01 (Một) mũ lưỡi trai, đã được bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
3. Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đoàn Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an huyện T; - Cơ quan THAHS Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Bị cáo Đoàn Văn L; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Chi |