- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thanh Tâm bị xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2023/HS-ST Ngày: 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thanh Trà.
2. Ông Phạm Công Gia.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Mai Thanh T, sinh năm 1999, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp 2, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thanh T1, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Ph, sinh năm 1971; vợ: Sống chung với nhau như vợ chồng với chị Lê Thị Thúy N, sinh năm 1993; con: có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 11 năm 2022 đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị Thúy N, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Thanh T, sinh năm 1999, ngụ ấp 2, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, bắt đầu sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2022, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá, trung bình mỗi ngày sử dụng một lần. Khoảng 16 giờ ngày 01/11/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T gặp một đối tượng tên Vân, ngụ xã P, huyện Đ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) nhờ mua ma túy đá với số tiền 1.200.000 đồng thì Vân đồng ý, một lúc sau, Vân cầm ma túy đến nhà thuê của T tại ấp 3, xã Phú Hòa và để 02 gói ma túy trước cửa nhà T. Sau khi có ma túy, T phân 02 gói ma túy trên thành 04 gói ma túy và cất giấu vào trong túi da màu đen để trước xe mô tô biển số 59S1-329.39 rồi điều khiển xe mô tô về nhà tại ấp 2, xã P, huyện Đ. Vào lúc 19 giờ 25 phút cùng ngày, khi Mai Thanh T đang điều khiển xe mô tô biển số 59S1 – 329.39 đi đến khu vực ấp 5, xã Phú Điền, huyện Tân Phú thì bị tổ tuần tra 161 Công an huyện Tân Phú dừng xe kiểm tra và phát hiện Mai Thanh T có hành vi tàng trữ 04 gói ni lông hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (T khai nhận là ma túy đá) mua về nhằm mục đích sử dụng nên tổ tuần tra 161 Công an huyện Tân Phú lập biên bản phát người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tại cơ quan điều tra, Mai Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình.
Tang vật thu giữ: 04 gói ni lông màu trắng, được hàn kín 02 đầu bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng có kích thước lần lượt là 04x02cm; 03x01cm; 02x01cm, 02x01cm; 01 xe mô tô biển số 59S1 – 329.39; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen.
Tại Kết luận giám định số 2335/KL-KTHS ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thế màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,6723 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,6554 gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lai trong niêm phong số: 2335/KL-KTHS.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Mai Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mai Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề xuất mức án đối với bị cáo Thanh Thanh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong số 2335/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine.
- 01 xe mô tô biển số 5981-329.39 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen là tài sản hợp pháp của Lê Thị Thúy N và Mai Thanh T, không dùng vào mục đích phạm tội nên cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho các chủ sở hữu trên là đúng quy định pháp luật.
Những vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Mai Thanh T khai nhận mua ma túy của một người phụ nữ tên Vân ngụ tại xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, có đặc điểm nhận dạng như sau khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m55, dáng người gầy, da ngăm đen, nói giọng miền nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng có tên Vân tại xã P, huyện Đ nhưng chưa phát hiện được đối tượng tình nghi, sẽ tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
- Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng truy tố là đúng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa bị cáo không đưa ra đồ vật, tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Vào lúc 19 giờ 25 phút ngày 01/11/2022 tại ấp 5, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, khi Mai Thanh T có hành vì tàng trữ 04 gói ni lông bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,6723 gam, nhằm mục đích sử dụng thì bị tổ công tác 161 Công an huyện Tân Phú tuần tra, kiểm soát phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 140/CT-VKS-HS ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
. Bị cáo T nhận thức được rằng ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà là một loại chất cấm lưu hành và do Nhà nước quản lý; bị cáo là người nghiện ma túy nhưng không quyết tâm từ bỏ ma túy, sống có ích cho gia đình và xã hội mà ngược lại bị cáo còn đi vào con đường phạm tội bằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có con đang còn nhỏ. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong số 2335/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine.
- 01 xe mô tô biển số 5981-329.39 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen là tài sản hợp pháp của Lê Thị Thúy N và Mai Thanh T, không dùng vào mục đích phạm tội nên cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho các chủ sở hữu trên là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Những vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Mai Thanh T khai nhận mua ma túy của một người phụ nữ tên Vân ngụ tại xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, có đặc điểm nhận dạng như sau khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m55, dáng người gầy, da ngăm đen, nói giọng miền nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng có tên Vân tại xã P, huyện Đ nhưng chưa phát hiện được đối tượng tình nghi, sẽ tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Bị cáo Mai Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định vụ số 2335/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine.
(Số vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyệ n Tân Phú và Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Tân Ph ú ngày 12/01/2023).
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú ; - Công an huyện Tân Phú ; - Chi cục THADS huyện Tân Phú ; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bá Đại |