vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ ĐÌnh Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 17/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mậu Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vĩ

Nghề nghiệp: Công chức

Ông Lê Sơn Tùng

Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn xã Quang Tiến.

Thư ký phiên toà:Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà:Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 260/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HSngày 03 tháng 01năm 2023 Đ với các bị cáo:

1. Tạ Đình Đ, sinh năm: 1959. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Trung Tâm, xã H, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Văn Năng (đã chết) và bà Đồng Thị Điền (đã chết); Vợ Đồng Thị Bình; Con: có 03 con (Con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1988); Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2022 đến nay (Có mặt).

2. Nguyễn Văn K, sinh năm: 1970. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Hữu Định, xã Quang Minh, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 04/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Tĩnh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Diến; Vợ Nguyễn Thị Thúy; Con: có 02 con (Con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993); tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2022 đến nay (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Tấn, sinh 1969. Trú tại: Thôn Ngọ Xá, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 16/6/2022, Tạ Đình Đ rủ Nguyễn Văn K đến khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về cùng nhau sử dụng, K đồng ý và K điều khiển xe máy biển kiểm soát 29Y3-03769 chở Đ từ xã H, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang đến khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Đến nơi, K dừng xe đứng chờ ở rìa đường, Đ đi bộ vào khu vực nhà dân, Đ đưa 100.000 đồng qua khe cửa và nhận lại 01 gói nilon chứa ma túy loại heroine. Đ cầm ma túy trong lòng bàn tay rồi quay lại chỗ K và nói “mua được rồi, đi về thôi”. Khi đến đoạn đường Quốc lộ 3 thuộc thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, tạm giữ của Đ 01 gói ma túy, tạm giữ của K 01 xe máy biển kiểm soát 29Y3-03769.

Tại Bản Kết luận giám định số 6258/KLGĐ-PC09 ngày 23/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,306 gram.

Về nguồn gốc số tiền 100.000 đồng mua ma túy, Đ khai là tiền do lao động mà có.

Đ với xe máy biển kiểm soát 29Y3-03769, Nguyễn Văn K khai mua của một người không quen biết được khoảng 5 năm, Đ đã làm mất giấy tờ xe nên không nhớ rõ thông tin xe. Tại Bản Kết luận giám định số 7755/KLGĐ-PC09 ngày 15/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chiếc xe máy gắn biển kiểm soát 29Y3-03769 có dấu vết tẩy xóa, không xác định được toàn bộ số khung, số máy nguyên thủy. Đ với biển kiểm soát 29Y3-03769 xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Tấn, sinh 1969, trú tại Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội. Năm 2014, ông Tấn bị làm rơi biển số xe tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Tại Cơ quan điều tra, Tạ Đình Đ, Nguyễn Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Bản cáo trạng số 235/CT-VKS ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Tạ Đình Đ và Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt Tạ Đình Đ, Nguyễn Văn K mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy thu giữ của Tạ Đình Đ, tịch thu sung công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, có dấu vết tẩy xóa, không xác định được toàn bộ số khung, số máy nguyên thủy thu giữ của Nguyễn Văn K. Tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát 29Y3-03769.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Biên bản thu giữ vật chứngvà các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 16/6/2022, tại thôn Sông Công, xã Trung Giã, Sóc Sơn, Hà Nội, Tạ Đình Đ và Nguyễn Văn K đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,306 gram, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, kiểm tra và bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c, Heroine…..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Tạ Đình Đ và Nguyễn Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tình chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; xâm hại trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống con người. Tệ nạn ma túy không những làm suy kiệt đến kinh tế của mỗi gia đình mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm khác.Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Đ là quân nhân xuất ngũ và có bố đẻ là ông Tạ Văn Năng (Lăng) tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, mẹ đẻ là bà Đồng Thị Bích được tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang và Bằng khen, bị cáo K có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Tĩnh được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: đây là vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Đ là người rủ bị cáo K đi mua ma túy về để sử dụng, trực tiếp giao dịch với người mua ma túy và sử dụng số tiền của bị cáo để mua ma túy. Bị cáo K là người sử dụng phương tiện để chở Đ đi mua ma túy nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo K.

Với những nhận định trên, xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Do đó, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét các bị cáo là Đ tượng sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung Đ với bị cáo.

Về vật chứng: Đ với 0,306 gam ma túy loại Heroine thu giữ của Tạ Đình Đ cần tịch thu tiêu hủy. Đ với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius thu giữ của Nguyễn Văn K là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công. Đ với chiếc biển kiểm soát 29Y3-03769, quá trình điều tra xác định là Biển kiểm soát của chiếc xe Honda Dream của ông Nguyễn Văn Tấn bị mất. Ông Tấn đã đăng ký lại chiếc biển kiểm soát chiếc xe của ông nên cần tịch thu tiêu hủy Đ với chiếc biển kiểm soát 29Y3-03769.

Về án phí: Bị cáo Đ được miễn án phí hình sự do là người cao tuổi. Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Tạ Đình Đ và Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tạ Đình Đ 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,306 gram ma túy thu giữ của Tạ Đình Đ. Tịch thu sung công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius thu giữ của Nguyễn Văn K. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc biển kiểm soát 29Y3-03769 (tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/12/2022 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ