vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Duy K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/9/2022. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Duy K 45 (Bốn lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN DUY KHÁNH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 27/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Châu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân hành và ông Đỗ Cao Thế.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án huyện Quảng Ninh, Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 01/3/2023; Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số: 139/TB-TA ngày 13/3/2023, đối với bị cáo:

Trần Duy K, tên gọi khác “Kem”, sinh ngày 12/9/1990; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D (đã chết) và con bà Trương Thị T, sinh năm 1965; vợ Trần Thị L, sinh năm 1994; con có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/8/2016 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.000.000 đồng, về hành vi “Hủy hoại tài sản” đã chấp hành xong hình phạt; ngày 22/9/2016 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong hình phạt; ngày 20/9/2017 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” đã chấp hành xong hình phạt;

Ngày 09/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 09/11/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cao C, sinh năm 1986; trú tại: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Q, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 20 giờ 40 phút, ngày 08/9/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà Trần Duy K (sinh năm 1990) ở thôn X, xã X có đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Quảng Ninh phối hợp với Công an xã Xuân Ninh tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Trần Duy K thì phát hiện có Võ Văn C (sinh năm 1996) ở thôn X, xã X tại nhà kho thuộc nhà của K, C khai nhận vừa sử dụng ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, qua xét nghiệm nhanh đối với Võ Văn C cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Đến 21 giờ 55 phút ngày 08/9/2022, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Quảng Ninh đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Duy K (sinh năm 1990) ở thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Q. Quá trình khám xét phát hiện, tại gian đầu tiên của nhà kho phía sau nhà chính của Trần Duy K có 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong có chứa 02 (hai) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng; tại gian thứ hai của nhà kho phía sau nhà chính của Trần Duy K có 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong có chứa 16 (mười sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, 02 (hai) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh và 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong có chứa 01 (một) cục bột màu trắng; trên trần nhà gian thứ hai của nhà kho phía sau nhà chính của Trần Duy K có 01 (một) túi nilon trong suốt chứa chất lỏng trong suốt.

Ngày 15/9/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình đã có kết luận giám định số 1054/KL-KTHS và 1058/KL-KTHS kết luận như sau:

- Mẫu ký hiệu A1 (tức 18 viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược, màu hồng) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,87g (một phẩy tám mươi bảy gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

- Mẫu ký hiệu A3 (tức chất màu trắng) là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), khối lượng 0,292g (không phẩy hai trăm chín mươi hai gam).

Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 9, danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

- Mẫu ký hiệu A2 (tức 02 (hai) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu xanh) không phải là chất ma túy.

- Mẫu ký hiệu A (tức chất lỏng trong suốt) không tìm thấy các chất ma túy thường gặp như Heroine (Heroin), MAN 6, Morphine, Methamphetamine, MDMA, TFMPP, Ketamine và Diazepam.

Về vật chứng: Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã thu giữ, tạm giữ:

- 18 (mười tám) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”, tổng khối lượng: 1,87g (một phẩy tám mươi bảy gam); sau giám định còn lại 1,724g (một phẩy bảy trăm hai mươi bốn gam).

- 02 (hai) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu xanh, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”, tổng khối lượng: 0,167g (không phẩy một trăm sáu mươi bảy gam), quá trình giám định đã sử dụng hết toàn bộ 0,167g.

- 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất bột màu trắng, khối lượng 0,292g (không phẩy hai trăm chín mươi hai gam); sau giám định còn lại 0,187g (không phẩy một trăm tám mươi bảy gam).

- 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất lỏng trong suốt, thể tích 16ml (mười sáu mi li lít), sau giám định còn lại 08ml (tám mi li lít).

Số vật chứng trên đối với ma túy: Sau khi giám định được hoàn trả trong hai phong bì giấy dán kín, trên có ghi “1054/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A1, A2 và A3” và “1058/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A”, được niêm phong, có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài phong bì dán băng dính trong suốt.

- 01 (một) võ chai nhựa được đục lỗ ở thân chai, trên thân chai có cuộn băng dính màu đen, 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, 01 (một) tờ giấy được cuộn tròn và 01 (một) chai thủy tinh màu xanh, trên thân chai được cuốn băng dính đen và được đục một lỗ, là công cụ Võ Văn C dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, số IMEI: 352691138787585 của Trần Duy K.

Đối với 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu ASUS, màu xám, số IMEI: 359226074552835 quá trình điều tra thu giữ của Nguyễn Cao C. Nhận thấy chiếc máy tính bảng không liên quan đến vụ án, ngày 01/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định trả lại tài sản cho Nguyễn Cao C.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 02/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Duy K từ 15 đến 20 tháng tù. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định được hoàn trả trong hai phong bì giấy dán kín, trên có ghi “1054/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A1, A2 và A3” và “1058/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A”, được niêm phong, có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; 01 (một) võ chai nhựa được đục lỗ ở thân chai, trên thân chai có cuộn băng dính màu đen; 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, 01 (một) tờ giấy được cuộn tròn và 01 (một) chai thủy tinh màu xanh, trên thân chai được cuốn băng dính đen và được đục một lỗ; trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, số IMEI: 352691138787585, máy đã qua sử dụng.

Bị cáo không phát biểu lời bào chữa, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về quan điểm luận tội.

Lời nói sau cùng tại phiên tòa của bị cáo: Bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Duy K khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng. Bị cáo khai: Do muốn sử dụng ma túy, bị cáo đã mua 18 viên ma túy loại hồng phiến về để sử dụng thì bị lực lượng Công an khám xét, phát hiện bắt quả tang và thu giữ, Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/9/2022, Trần Duy K là người có có năng lực trách nhiệm hình sự đã có hành vi tàng trữ 1,87g (một phẩy tám mươi bảy gam) và 0,292g (không phẩy hai trăm chín mươi hai gam) Heroine. Tổng khối lượng của các chất ma túy là 2,162g (hai phẩy một trăm sáu mươi hai gam). Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây lo lắng cho gia đình bị cáo và toàn xã hội nói chung. Tuy bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng xét về nhân thân: Ngày 30/8/2016 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.000.000 đồng, về hành vi “Hủy hoại tài sản” đã chấp hành xong hình phạt; ngày 22/9/2016 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong hình phạt; ngày 20/9/2017 bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” đã chấp hành xong hình phạt;

Ngày 09/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; ngày 09/11/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” do đó, bị cáo có nhân thân không tốt, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, đáng lẽ phải tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, do lối sống không lành mạnh, sử dụng và nghiện ma túy, coi thường pháp luật mong muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà phạm tội. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra vụ án cũng như xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đều tỏ thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; người phạm tội có thành tích trong công tác phòng chống lũ lụt năm 2020. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Trong vụ án này, Trần Văn Q (sinh ngày 12/12/1999), Trần Văn T (sinh ngày 25/11/1992) cùng ở thôn P, xã X và Nguyễn Cao C (sinh ngày 26/4/1986) ở thôn X, xã X khai đã mua ma túy dạng hồng phiến tại nhà của Trần Duy K để sử dụng. Tuy nhiên Trần Duy K không thừa nhận việc mua bán trên với các đối tượng vì vậy Cơ quan điều tra không đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi mua bán ma túy của K; nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Riêng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn Q, Nguyễn Cao C, Trần Văn T và Võ Văn C, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho Công an huyện Quảng Ninh xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với 18 (mười tám) viên ma túy hồng phiến Trần Duy K khai đã mua 18 (mười tám) viên ma túy hồng phiến từ một nam thanh niên thường gọi là “Đen” tại khu vực bến xe N, thành phố Đ và mua Heroine từ một nam thanh niên thường gọi là “T” tại khu vực xã T, huyện Q. Tuy nhiên thông tin K cung cấp không đầy đủ Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác minh được đối tượng tên “Đ”, còn 01 (một) đối tượng nghi vấn tên T ở xã T hiện không có mặt ở địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Đối với hành vi của Võ Văn C sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà kho phía sau nhà chính của Trần Duy K, C khai số ma túy sử dụng là do K cung cấp và sau đó cùng nhau sử dụng tại nhà kho; tuy nhiên quá trình điều tra không đủ căn cứ để chứng minh, do vậy không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Khánh về hành vi trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: 1,911g (Một phẩy chín trăm mười một gam) Methamphetamine, Heroine sau giám định kèm theo vỏ bao gói là vật cấm lưu hành tàng trữ; 01 (một) vỏ chai nhựa được đục lỗ ở thân chai, trên thân chai có cuộn băng dính màu đen, 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, 01 (một) tờ giấy được cuộn tròn và 01 (một) chai thủy tinh màu xanh, trên thân chai được cuốn băng dính đen và được đục một lỗ là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy, 01 (một) vỏ chai nhựa được đục lỗ ở thân chai, trên thân chai có cuộn băng dính màu đen, 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, 01 (một) tờ giấy được cuộn tròn và 01 (một) chai thủy tinh màu xanh, trên thân chai được cuốn băng dính đen và được đục một lỗ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh dương, số IMEI: 352691138787585, máy đã qua sử dụng không phải là công cụ, phương tiện phạm tội cần trả cho chủ sở hữu, là phù hợp điểm c khoản 1 khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Duy K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/9/2022.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Duy K 45 (Bốn lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 1,911g (Một phẩy chín trăm mười một gam) Methamphetamine, Heroine sau giám định kèm theo vỏ bao gói (trong hai phong bì giấy dán kín, trên có ghi “1054/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A1, A2 và A3” và “1058/KL-KTHS” “Mẫu ký hiệu A”, được niêm phong, có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình); 01 (một) vỏ chai nhựa được đục lỗ ở thân chai, trên thân chai có cuộn băng dính màu đen; 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) tờ giấy được cuộn tròn và 01 (một) chai thủy tinh màu xanh, trên thân chai được cuốn băng dính đen và được đục một lỗ.

Trả lại cho bị cáo Trần Duy K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 5S màu vàng trắng, số IMEI: 358805050490390, máy đã qua sử dụng.

(Tất cả có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2023)

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/3/2023); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ