vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lư Mãn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Lư Mãn P 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bao th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lư Mãn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lư Mãn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST.
Ngày: 12 – 7 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trà Minh Châu.

Bà Trần Thúy Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lư Mãn P; sinh ngày 20/10/1972; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Số X, đường K, khóm Y, phường Z, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lư Văn D, sinh năm 1935 (chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1937 (chết); có vợ là Ngô Thị Mộng T, sinh năm 1973; có 01 người con sinh năm 1996; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Xấu (đã bị kết án về Tội mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2012 đã chấp hành xong năm 2018 và được xóa án tích theo quy định và bị Công an thành phố Sóc Trăng xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng tiền giả vào ngày 18/3/2020 và đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị tạm giam từ ngày 10 tháng 01 năm 2023 cho đến nay (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

1. Người làm chứng:

- Ông Phan Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp P, thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Ông Trần Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

2. Người chứng kiến: Bà Thạch Thị Thu N, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lư Mãn P là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và có 01 tiền án về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Sau khi đã chấp hành xong hình phạt vào năm 2018, P về sinh sống cùng gia đình tại số X đường K, khóm Y, phường Z, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng với nghề mua bán trái trái cây và P bắt đầu sử dụng lại ma túy vào đầu năm 2022. Do có nhu cầu tiếp tục sử dụng ma túy nên vào ngày 08/01/2023, P đi xe khách lên bến xe 91B thành phố T (không nhớ rõ địa chỉ) để mua ma túy của một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với giá 5.000.000 đồng để về sử dụng. Sau khi nhận tiền người đàn ông đưa cho P 01 túi nylon không màu một đầu kẹp, được kẹp kín bên trong có chứa ma túy dạng tinh thể rắn màu trắng thì P đón xe khách đi về. Khi về đến nhà do sợ bị rách nên P đã lấy thêm 01 túi nylon không màu đầu kẹp, được kẹp kín để đựng số ma túy này.

Đến khoảng 08 giờ ngày 09/01/2023, do có mối quan hệ buôn bán trái cây với Trần Văn T nên P đón xe ôm đi từ thành phố T đến vườn nhà của T để mua trái cây và mang theo số ma túy trên để sử dụng. Khi đến nơi, T không có mặt tại chòi, P thấy H đang ngủ trên võng trong căn chòi lá và P nhìn xung quanh thấy có đoạn băng keo màu đen nên lấy để quấn túi ma túy mà P đem theo để tránh sự P hiện của người khác và đem cất giấu vào bụi sả cặp bên hông căn chòi phía bên trái rồi P lên cái võng khác nằm, sau đó thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang.

Ngoài ra, P còn khai nhận trước ngày bị bắt đã sử dụng ma túy đá 02 lần. Lần thứ nhất, P sử dụng một mình trên đường đi về, ma túy do P mua của người đàn ông không rõ họ tên ở thành phố T với giá 200.000 đồng. Lần thứ hai, P một mình đến gặp người đàn ông không rõ họ tên ở thành phố T mua ma túy với giá 300.000 đồng rồi đến khu vực đồng vắng sử dụng hết, đồng thời P đã bỏ các dụng cụ để sử dụng ma túy nhưng không nhớ địa điểm cụ thể.

Tại bản Kết luận giám định số 03/KLMT-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,7734 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSLP ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lư Mãn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Bị cáo Lư Mãn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lư Mãn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lư Mãn P đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 8,7734 gam chất Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hành vi của bị cáo Lư Mãn P là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lư Mãn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lư Mãn P từ 05 năm đến 06 năm tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 bao thư được niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2113638, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 03/2023, ngày 17 tháng 01 năm 2023”, có hai dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký của Phạm Thanh Trường S, Ngô Hoàng Lâm P, Ngô Hoàng D; bên trong có chứa 01 túi nylon không màu một đầu kẹp được kẹp kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng. 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng sáng (đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu vàng (đã qua sử dụng), 01 bình nhựa có nắp màu đỏ (đã qua sử dụng), 01 ống thủy tinh một đầu hình cầu (đã qua sử dụng), 01 cái khẩu trang màu trắng có chữ KN95 đã bị cắt một phần ở giữa, 02 đoạn ống nhựa, 04 cái bật lửa các loại (đã qua sử dụng) do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú đang quản lý.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lư Mãn P: Bị cáo nhận thấy hành vi do bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật nên bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng ông Trần Văn T và người chứng kiến Thạch Thị Thu N xét sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào Điều 293, Điều 296 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo Lư Mãn P khai nhận: Vào lúc 12 giờ ngày 09/01/2023, tại căn chòi là của Trần Văn T thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lư Mãn P bị lực lượng Công an huyện Long Phú phối hợp cùng Công an xã P, huyện P bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích là để sử dụng. Tại kết luận giám định số 03/KLMT-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,7734 gam Methamphetamine.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Lư Mãn P là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã tìm mua ma túy rồi cất giấu ma túy để sử dụng. khi bị cáo đem ma túy từ thành phố T mang đến căn chòi lá của Trần Văn T thuộc ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng thì bị Công an bắt quả tang, qua giám định là Methamphetamine có tổng trọng lượng là 8,7734 gam. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về chất ma tuý phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng số: 10/CT-VKSLP ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Lư Mãn P về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lư Mãn P nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu: Bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2012 đã chấp hành xong năm 2018 và được xóa án tích theo quy định và bị Công an thành phố Sóc Trăng xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng tiền giả vào ngày 18/3/2020 và đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, không còn tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông không rõ họ tên đã bán ma túy cho bị cáo do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật. Đối với Phan Văn H không biết việc bị cáo P tàng trữ trái phép chất ma túy; Trần Văn T là chủ sở hữu căn chòi lá, thời điểm bị cáo P cất giấu ma túy thì T không có mặt và qua điều tra chứng minh được T không biết việc bị cáo P tàng trữ ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số ma túy bị cáo P mua và sử dụng 02 lần trước khi bị bắt quả tang P đã sử dụng hết; không nhớ mua vào thời gian nào, mua của ai và địa điểm mua cụ thể nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2023 của Cơ quan điều tra huyện Long Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú:

- 01 bao thư được niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2113638, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 03/2023, ngày 17 tháng 01 năm 2023”, có hai dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký của Phạm Thanh Trường S, Ngô Hoàng Lâm P, Ngô Hoàng D; bên trong có chứa 01 túi nylon không màu một đầu kẹp được kẹp kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Xét thấy, vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng sáng (đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu vàng (đã qua sử dụng), 01 bình nhựa có nắp màu đỏ (đã qua sử dụng), 01 ống thủy tinh một đầu hình cầu (đã qua sử dụng), 01 cái khẩu trang màu trắng có chữ KN95 đã bị cắt một phần ở giữa, 02 đoạn ống nhựa, 04 cái bật lửa các loại (đã qua sử dụng). Xét thấy, vật chứng trên là công cụ dùng vào việc phạm tội hiện không sử dụng được nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền Việt Nam 10.655.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J6+, màu xanh đen có gắn sim số 0376.367344 và số 0388.960114 của Lư Mãn P; tiền dùng để sinh hoạt cá nhân và điện thoại dùng để liên lạc cá nhân Cơ quan điều tra huyện Long Phú đã thu giữ và xử lý trả lại nên đã trả lại cho bị cáo Lư Mãn P nên không đặt ra xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím Cơ quan điều tra huyện Long Phú đã thu giữ và xử lý trả lại cho chủ sở hữu là anh Phan Văn H nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lư Mãn P.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lư Mãn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Phạt bị cáo Lư Mãn P 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bao thư được niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2113638, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 03/2023, ngày 17 tháng 01 năm 2023”, có hai dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký của Phạm Thanh Trường S, Ngô Hoàng Lâm P, Ngô Hoàng D; bên trong có chứa 01 túi nylon không màu một đầu kẹp được kẹp kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng sáng (đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 bình nhựa có nắp màu vàng (đã qua sử dụng), 01 bình nhựa có nắp màu đỏ (đã qua sử dụng), 01 ống thủy tinh một đầu hình cầu (đã qua sử dụng), 01 cái khẩu trang màu trắng có chữ KN95 đã bị cắt một phần ở giữa, 02 đoạn ống nhựa, 04 cái bật lửa các loại (đã qua sử dụng) (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày ngày 25/5/2023 của Cơ quan điều tra huyện Long Phú với Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc bị cáo Lư Mãn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ