- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS - ST Ngày 20 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI - HOÀ BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Kiều Quang Dự
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Xuân Trường và Ông: Ngô Trung Tính
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST
- HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2023/QĐXXST - HS, ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Văn T, sinh ngày 24/10/1986; tại: Huyện V - Hòa Bình; ĐKHK và Nơi cư trú: Xóm S, xã T, huyện V, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn K, sinh năm 1963 và bà: Bùi Thị V, sinh năm 1963; Vợ: Lường Thị D, sinh năm 1990; Có 02 con lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 - Có mặt.
2. Họ và tên: Bùi Văn M, sinh ngày 09/3/1995; tại: Huyện V - Hòa Bình; ĐKHK và Nơi cư trú: Xóm S, xã T, huyện V, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Ch, sinh năm 1971 và bà: Bùi Thị D, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 - Có mặt.
Bùi Văn M là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng, theo Quyết định số: 129 - QĐ/UBKTHU ngày 04/01/2023 của Huyện Ủy Kim Bôi.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông: Bùi Văn K, sinh năm 1963 - Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm S, xã T, huyện V, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17/12/2022 Bùi Văn M gặp Bùi Văn T tại đám cưới thuộc Xóm S, xã T, huyện V hai bên nói chuyện với nhau, sau đó T rủ M đi xuống thị trấn B, huyện V để rút tiền, tại cây ATM T dùng xe Môtô BKS: 28D1
- 093.86 chở M, rút được tiền T nói với M “Đi lấy ít đồ về chơi đi” M trả lời “Em không có tiền” T bảo có tiền đây, rồi đưa cho M 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng để mua ma túy về sử dụng, T điều khiển xe Môtô chở M vào khu Lục Đồi, thị trấn B, huyện V để mua ma túy.
Khi đến cổng nhà người tên Đ khu L, thị trấn B, huyện V, T dừng xe cho M xuống, M gọi “Anh ơi” thì người đàn ông từ trong nhà đi ra, M đưa cho Đ 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, qua ô cửa, Đ cầm tiền và đưa lại cho M 04 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng là ma túy loại Heroine, sau khi mua được ma túy M cầm ma túy bằng tay trái, T điều khiển xe Môtô chở M đi về. Khi cả hai đi đến địa phận xóm Đồi 2, xã K, huyện V thì bị công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tang vật là 04 gói ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng và trích mẫu vật chứng ngày 19/12/2022 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình xác định: 04 gói giấy màu trắng, bên trong các gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là chất ma túy. Ký hiệu lần lượt là G1, G2, G3, G4. Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy màu trắng kết quả: G1 = 0,04g; G2 = 0,07g; G3 = 0,04g; G4 = 0,05g.
Kết luận giám định số: 07/KL - KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy màu trắng ký hiệu G1, G2, G3, G4 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Chất nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn M, sinh năm: 1995 và Bùi Văn T, sinh năm 1986, cùng trú tại: Xóm S, xã T, huyện V, tỉnh Hòa Bình, xảy ra ngày 17/12/2022, tại: xóm Đồi 2, xã K, huyện V, tỉnh Hòa Bình” giửi giám định có tổng khối lượng 0,20g (Không phẩy hai mươi) gam, là ma túy, loại Heroine.
Đối với người đàn ông tên Đ đã bán ma túy cho M, tên là Đặng Đông A, sinh năm 1969, trú tại: Khu L, thị trấn B, huyện V, tỉnh Hòa Bình Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Bôi, đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đang tiến hành điều tra và xử lý trong vụ án khác.
Vật chứng vụ án:
- 01 Phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn M và Bùi Văn T, có hành vi phạm tội về ma túy xảy ra tại xã K, huyện V, tỉnh Hòa Bình. Mặt sau có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- 01 Xe Môtô nhãn hiệu YAMAHA sirius BKS: 28D1 - 093.86 Cơ quan Điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Cáo trạng số: 14/CT - VKS ngày 21/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt Bùi Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt Bùi Văn M từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bản thân là lao động tự do không có tài sản nên không phạt tiền bổ sung.
- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn M và Bùi Văn T, có hành vi phạm tội về ma túy xảy ra tại xã K, huyện V, tỉnh Hòa Bình. Mặt sau có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M, khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật và mức hình phạt, vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thời hạn tù nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định Tố tụng: Cơ quan điều tra huyện Kim Bôi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà. HĐXX xét thấy: Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 17/12/2022 Bùi Văn T gặp Bùi Văn M tại đám cưới ở xóm S, xã T, huyện V, sau khi trao đổi T rủ M đi rút tiền tại cây ATM, tại thị trấn B, huyện V, khi có tiền T rủ M đi mua ma túy về sử dụng, T đưa cho M 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, M cầm tiền, T điều khiển xe Môtô BKS: 28D1 - 093.86 đến gặp Đặng Đông A, sinh năm 1969; trú tại: Khu L, thị trấn B, huyện V, M mua 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, được 04 gói ma túy, sau khi mua được ma túy cả hai quay về, đến 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến xóm Đồi 2, xã K, huyện V thì bị Công an huyện Kim Bôi kiểm tra bắt quả tang, M đang cầm 04 gói ma túy, trong lòng bàn tay trái, có khối lượng 0,20 gam, là ma túy loại Heroine, mục đích các bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M, tàng trữ 0,20 gam ma túy loại Heroine, đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo:
- Bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm pháp luật hình sự của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, nên phải xử lý nghiêm khắc đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo, để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
- Các bị cáo có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Bùi Văn T là người khởi xướng, bị cáo đưa tiền cho bị cáo Bùi Văn M, dùng xe Môtô chở bị cáo M đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo M là người trực tiếp mua ma túy, khi bị bắt bị cáo M đang tàng trữ ma túy. Như vậy bị cáo T có mức độ tham gia tích cực hơn khi phạm tội, bị cáo phải chịu Trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo M, theo quy định tại Điều 58 của BLHS.
- Nhân thân các bị cáo là người có nhân thân tốt, trước khi phạm tội, không có tiền án, tiền sự.
- Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đối với bị cáo Bùi Văn T, có bố tham quân đội được tặng nhiều Bằng khen, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho từng bị cáo.
- Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tính chất đồng phạm, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo, khỏi xã hội một thời gian nhất định, theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt thời hạn tù các bị cáo bằng nhau, do bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo M, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo là lao động tự do công việc không ổn định, nghiện chất ma túy, bản thân không có tài sản, do vậy không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo, quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: 01 Phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn M và Bùi Văn T, có hành vi phạm tội về ma túy xảy ra tại xã K, huyện V, tỉnh Hòa Bình. Mặt sau có dấu đỏ, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chiếc xe Môtô nhãn hiệu YAMAHA sirius BKS: 28D1 - 093.86 thuộc sở hữu của ông Bùi Văn K, khi mượn xe bị cáo T nói đi chơi, ông không biết bị cáo đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả cho ông chiếc xe là có căn cứ, đúng pháp luật, ông K vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra ông không có ý kiến yêu cầu gì, nên không xem xét.
Đối với người bán ma túy: Đối với Đặng Đông A, sinh năm 1969, trú tại: Khu L, thị trấn B, huyện V, tỉnh Hòa Bình bán 04 gói ma túy cho Bùi Văn M. Cơ quan CSĐT Công an huyện Kim Bôi, đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xử lý trong vụ án khác là đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt Bùi Văn T: 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt Bùi Văn M: 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2022.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn M và Bùi Văn T, có hành vi phạm tội về ma túy xảy ra tại xã K, huyện V, tỉnh Hòa Bình. Mặt sau có dấu đỏ, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
Hiện trạng theo biên bản bàn giao vật chứng, ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa, Công an huyện Kim Bôi và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn M, mỗi người phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Kim Bôi; - Công an huyện Kim Bôi; - UBKT Huyện Ủy Kim Bôi; - Sở TP tỉnh HB; - Thi hành án HS; - Thi hành án DS huyện Kim Bôi; - Bị cáo; Người tham gia TT khác; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |