vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 01/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tội: “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Giao bị cáo Nguyễn Công S cho Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công S phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HĐ
TỈNH QN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 01/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ, TỈNH QN

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Một.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Dương.

2. Ông Nguyễn Gia Đông.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Diễm My - Thư ký Toà án nhân dân huyện HĐ, tỉnh QN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, tỉnh QN tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hương Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện HĐ, tỉnh QN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2023/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Công S; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11/02/1979; Nơi sinh: huyện HĐ, tỉnh QN; Nơi cư trú: thôn Thuận An, xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 7/12; Tên cha: Nguyễn Xuân M (đã chết), tên mẹ: Phạm Thị B (đã chết); Bị cáo là con một; tên vợ Đặng Thị D- Sinh năm 1987, có 02 con sinh năm 2014 và 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 11/10/2023, bị Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú: Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

+ Nguyễn Văn Th – Sinh năm 1979. Vắng mặt.

+ Tào Viết M – Sinh năm 1970. Vắng mặt.

+ Âu Văn Th – Sinh năm 1983. Vắng mặt.

+ Trần Minh D – Sinh năm 1975. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị D1 – Sinh năm 1945. Vắng mặt.

Tất cả cùng trú tại: Thôn Thuận An, xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án D1 tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00’ ngày 04/4/2023, Nguyễn Công S đi bộ từ nhà đến nhà bà Nguyễn Thị D1 trú cùng thôn để ăn đám giỗ. Tại đây, Sinh gặp Nguyễn Văn Th, Tào Viết M, Âu Văn Th và Trần Minh D trú cùng thôn, sau khi khách về, Tào Viết M rủ mọi người “Cào mấy ván kiếm lon bia uống chơi”, thì tất cả đồng ý. Sau đó D lấy ra 01 bộ bài tây 52 lá đã cũ, 01 cái đĩa sứ rồi bắt đầu đánh bạc dưới hình thức bài “cào ba lá” thắng thua bằng tiền, mỗi ván người chơi đặt số tiền 10.000 đồng. Nguyễn Công S dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Văn Th dùng số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, Trần Minh D dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, Âu Văn Th dùng số tiền 350.000, Tào Viết M dùng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc D1 xác định là 1.550.000 đồng.

Tất cả cùng đánh bạc đến 15 giờ 30’ cùng ngày, tổ công tác Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN, lập biên bản vụ việc thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.550.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 cái đĩa bằng sứ.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Công S bị Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022 về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong vào ngày 13/10/2022, chưa hết thời hạn D1 coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép nên đủ yếu tố cấu Th tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 27/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, tỉnh QN đã truy tố Nguyễn Công S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Công S phạm tội: “Đánh bạc” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: Nguyễn Công S mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.550.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái đĩa bằng sứ là công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc.

Đối với Nguyễn Văn Th, Tào Viết M, Âu Văn Th và Trần Minh D, có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã Hiệp Thuận, xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

- Đối với bà Nguyễn Thị D1 không biết các đối tượng dùng nhà mình để đánh bạc nên không xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã D1 tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện HĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, tại nhà bà Nguyễn Thị D1, tổ công tác Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN, bắt quả tang Nguyễn Công S, Nguyễn Văn Th, Tào Viết M, Âu Văn Th và Trần Minh D đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “cào ba lá” thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.550.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái đĩa bằng sứ.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Công S bị Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPHC ngày 11/10/2023 về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong vào ngày 13/10/2022, tính đến ngày 04/4/2023 lại tiếp tục có hành vi đánh bạc, chưa đủ điều kiện được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ những căn cứ trên thì thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Công S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 27/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, tỉnh QN và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo cùng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính cũng về hành vi "Đánh bạc trái phép" nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại phạm tội, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh mới tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, hoàn cảnh gia đình có khó khăn; tại phiên tòa bị cáo tỏ rõ sự ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có cha ruột là Nguyễn Xuân M được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng I, II, III; có mẹ là Phạm Thị B (Phạm Thị Kim B) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III; có chú ruột tên Nguyễn Ngọc Hoa là liệt sĩ, được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng II. Với những tình tiết giảm nhẹ như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm của bản thân.

Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi phạm tội của bị cáo có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung nhưng xét thấy điều kiện kinh tế bị cáo khó khăn nên không áp dụng.

- Đối với số tiền 1.550.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc là tài sản phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái đĩa bằng sứ là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi của người có liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Th, Tào Viết M, Âu Văn Th và Trần Minh D do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an xã Hiệp Thuận, huyện HĐ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với bà Nguyễn Thị D1 không biết các đối tượng dùng nhà mình để đánh bạc nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công S phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công S 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 01 tháng 8 năm 2023).

Giao bị cáo Nguyễn Công S cho Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thuận, huyện HĐ, tỉnh QN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.550.000 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ tại chiếu bạc, số tiền này đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1053906.00000 ngày 29/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện HĐ mở tại Kho bạc Nhà nước huyện HĐ.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 (Một) cái đĩa bằng sứ là công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc. Vật chứng này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện HĐ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2023.

4. Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Công S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng y) án phí HSST.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án D1 niêm yết hợp lệ.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ