- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Ngọc T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HS-ST Ngày: 12/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nghiệm.
2. Bà Nguyễn Thị Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Thị Ngọc T (tên gọi khác: Phấn), sinh năm 1978, tại tỉnh Tiền Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Minh C (chết) và bà Nguyễn Thị U; Chồng: Nguyễn Văn Mười B, con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự dùng để truy tố bị cáo: Ngày 27/11/2021, bị Công an huyện Gò Công Tây ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bài thắng, thua bằng tiền” theo Quyết định số 228/QĐ-XPHC, đã nộp phạt ngày 18/02/2022 nhưng chưa được xóa tiền sự; tiền sự về hành vi vi phạm khác: Không có; bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Tấn K, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Phạm Thị H, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Hồ Thị Thu S, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Lưu Thị Giao L, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người làm chứng:
- Nguyễn Thị L!, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Võ Thị Thúy O, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 16/12/2022, bị cáo Võ Thị Ngọc T đến nhà chị Lưu Thị Giao L để thăm bệnh chị L thì gặp anh Bùi Tấn K, chị Phạm Thị H, và chị Hồ Thị Thu S. Lúc này, chị L đang bệnh nằm trong phòng ngủ, bị cáo cùng với những người trên rủ nhau cùng đánh bài tứ sắc (đánh ỏ) thắng thua bằng tiền, tất cả đồng ý, mỗi người đưa trước 15.000 đồng và nhờ một cháu nhỏ đi mua bài giùm. Theo quy ước, ban đầu mỗi người chơi bỏ ra 200.000 đồng, nếu ai thua hết thì sẽ đặt tiếp 200.000 đồng, trong một ván bài khi người nào không còn những lá bài lẻ (bài rác) thì sẽ thắng ba người còn lại. Kết thúc mỗi ván, ai thắng sẽ bỏ ra 5.000 đồng để vào ô gạch gần vị trí đánh bài (tiền này để hùn mua bài, kết thúc ngày thì số tiền này sẽ được trả lại cho bốn người chơi). Số tiền mỗi người thua trong một ván bài khoảng từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Cả nhóm sử dụng tấm giấy bìa cứng màu trắng trải trên nền gạch nhà chị L để đánh bài. Khi cả nhóm chơi được 10 -15 ván thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra và lập biên bản tạm giữ tang vật. Kết quả khi bị bắt quả tang: bị cáo huề vốn, anh K thua khoảng 120.000 đồng, chị H thắng được 135.000 đồng, chị S thua 100.000 đồng.
Việc sử dụng địa điểm nhà chị Lưu Thị Giao L mà không có trao đổi gì với chị L. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây không xem xét trách nhiệm hình sự với chị L.
Đối với các đối tượng khác tham gia đánh bài vào ngày 16/12/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây xác định hành vi chưa cấu thành tội phạm nên đã xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Các tang vật thu giữ khác cũng đã được xử lý trong vụ xử phạt vi phạm hành chính.
Vật chứng thu giữ của vụ án này:
+ 10 (mười) bộ bài tứ sắc;
+ 01 (một) tấm giấy bìa cứng kích thước (100x100)cm;
+ Tiền Việt Nam: 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng);
Bản cáo trạng số 10/CT-VKSGCT ngày 13/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây đã truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc T về “Tội đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng theo nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đúng tội không oan, sai.
Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có mặt trình bày: thống nhất lời trình bày như tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây. Không trình bày gì thêm khác.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, truy tố bị cáo Ngọc T về tội danh và điều khoản đã nêu trên, đồng thời đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc T về “Tội đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 ; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc T số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy 10 (mười) bộ bài tứ sắc; 01 (một) tấm giấy bìa cứng kích thước (100x100)cm; tịch thu sung quỹ 200.000 đồng tiền bị cáo dùng để đánh bạc. Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo Võ Thị Ngọc T nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ tiền phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện:
Vào khoảng 12 giờ ngày 16/12/2022, tại nhà của chị L, bị cáo Võ Thị Ngọc T cùng với các đối tượng Bùi Tấn K, Hồ Thị Thu S, Phạm Thị H đã có hành vi đánh bài tứ sắc trái phép dưới hình thức thắng thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 1.005.000 đồng, trong đó của K 280.000 đồng, của S 190.000 đồng, của H 335.000 đồng, của bị cáo 200.000 đồng, số tiền của K, S, H đã được xử lý theo quy định, còn số tiền của bị cáo T hiện vẫn còn đang tạm giữ. Bị cáo Võ Thị Ngọc T có một tiền sự về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành “Tội đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Võ Thị Ngọc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Võ Thị Ngọc T phạm tội lần đầu thộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân:
Bị cáo Võ Thị Ngọc T mặc dù có tiền sự nhưng tiền sự này dùng để truy tố bị cáo, và ngoài tiền sự này thì bị cáo không có tiền sự về hành vi vi phạm khác. Do đó, xét cho các bị cáo trong lần phạm tội này có nhân thân tốt.
Về áp dụng hình phạt:
Bị cáo Võ Thị Ngọc T có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tiền án tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo Võ Thị Ngọc T trong lần phạm tội này chưa thu lợi bất chính. Vì thế, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ sức sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Các biện pháp tư pháp:
- 10 (mười) bộ bài tứ sắc; 01 (một) tấm giấy bìa cứng kích thước (100x100)cm là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 200.000 đồng là số tiền của bị cáo T dùng để đánh bạc nên tịch thu sung quỹ.
- 2.000.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo T không liên quan đến việc đánh bạc nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc T số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
* Tịch thu tiêu hủy: 10 (mười) bộ bài tứ sắc; 01 (một) tấm giấy bìa cứng kích thước (100x100)cm;
* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 200.000 đồng;
* Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo T để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/4/2023 và Biên lai thu tiền số 0006804 ngày 22/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Võ Thị Ngọc T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công Ki, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Gò Công Tây; - Chi cục THADS H.GCT; - UBND xã (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo, NLQ; - Bộ phận THA phạt tù; - Hồ sơ vụ án, Lưu AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kiều Oanh |