vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Q phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Phạm Q 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Q phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 26/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Cư và bà Huỳnh Thị Thùy Trâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tụ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Phạm Q, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1973 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đ – sinh năm 1938 và bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1938; vợ Nguyễn Thị L – sinh năm 1977; con 02 đứa, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa bạc và Đánh bạc, bị Chủ tịch UBND thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt hành chính vào ngày 08/3/2022, bị cáo chấp hành xong vào ngày 12/4/2022. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn T – sinh năm 1977. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt

3. Người làm chứng:

- Ông Trần Văn T – sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Thanh V – sinh năm 1974. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Tấn N – sinh năm 1970. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2022, Phạm Q, Trần Văn T, Nguyễn Thanh V và Nguyễn Tấn N cùng ở tổ dân phố T, phường Q, thị xã Đ đến nhà ông Nguyễn Tấn T ở TDP T, phường Q, thị xã Đ chơi. Tại đây, Phạm Q, Trần Văn T, Nguyễn Thanh V và Nguyễn Tấn N cùng thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh bài tứ sắc, thắng thua bằng tiền. Lúc này, ông Nguyễn Tấn T đi mua 10 (mười) bộ bài tứ sắc, rồi lấy ra một tấm vải màu xanh làm chiếu bạc và một rổ nhựa màu đỏ để những người trên làm công cụ đánh bạc. Quy ước tỷ lệ thắng thua như sau: người nào thắng thường thì thắng 30.000 đồng, tương ứng ba người còn lại thua mỗi người 10.000 đồng; thắng quan thì thắng 60.000 đồng tương ứng ba người còn lại thua mỗi người 20.000 đồng, khi thắng quan phải bỏ ra 10.000 đồng tiền xâu vào rổ (để trả tiền bài, còn lại trả tiền xâu cho ông Nguyễn Tấn T). Khi tham gia đánh bạc, Q mang theo số tiền 2.200.000 đồng, ông Q sử dụng 200.000 đồng (để tại vị trí ngồi) vào mục đích đánh bạc, số tiền 2.000.000 đồng để trong ví ở túi áo khoác phía trong bên trái, Trần Văn T mang theo số tiền 3.610.000 đồng, ông T sử dụng 490.000 đồng (để tại vị trí ngồi và túi quần trước bên phải) vào mục đích đánh bạc, số tiền 3.120.000 đồng để trong ví ở túi quần sau bên phải, Nguyễn Thanh V mang theo số tiền 1.180.000 đồng và Nguyễn Tấn N mang theo số tiền 1.000.000 đồng đều sử dụng hết để đánh bạc. Hoạt động đánh bạc liên tục diễn ra đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, Công an thị xã Đức Phổ phát hiện và tiến hành lập biên bản về hành vi vi phạm.

Căn cứ tài liệu thu thập được xác định số tiền đã được hoặc sẽ được dùng vào mục đích đánh bạc của Phạm Q, Trần Văn T, Nguyễn Thanh V và Nguyễn Tấn N là 2.870.000 đồng.

Cáo trạng số: 10/CT - VKS ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố Phạm Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 321, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử bị cáo với mức án từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tứ sắc trong đó có 01 bộ đang sử dụng, 07 bộ đã qua sử dụng và 02 bộ chưa qua sử dụng; 01 tấm vải màu xanh sẫm có kích thước (190x145) cm; 01 rổ nhựa màu đỏ

- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 320.000 đồng của bị cáo.

- Đề nghị trả lại cho bị cáo 2.000.000đồng

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định vào khoảng 12 giờ ngày 18/12/2022 bị cáo có hành vi đánh bạc cùng với Trần Văn T, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Tấn N tại nhà của Nguyễn Tấn T

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền đánh bạc của bị cáo với các đối tượng là 2.870.000 đồng. Mặc dù số tiền đánh bạc của bị cáo Phạm Q và những người khác trong vụ án dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo đã có một tiền sự về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa bạc và đánh bạc trái phép bị Ủy ban nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 583/QĐ-XPHC ngày 08/3/2022, chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Xét bị cáo là công dân Việt Nam có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức về pháp luật và xã hội, biết rõ hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật nhưng do ý thức xem thường pháp luật nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và cũng là bài học cảnh tĩnh cho những ai có hành vi đánh bạc trái phép.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ông cố nội của bị cáo là liệt sĩ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đối với Trần Văn T, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Tấn N có hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc dưới 05 triệu đồng. Quá trình điều tra, xác định những người trên chưa bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó, hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự mà chỉ vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Công an thị xã Đức Phổ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ nên không xét.

Đối với Nguyễn Tấn T có hành vi dùng nhà mình để chứa chấp việc đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc dưới 05 triệu đồng và Nguyễn Tấn T chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Công an thị xã Đức Phổ đã xử phạt hành chính về hành vi dùng nhà ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 là phù hợp nên không xét

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:

- Số tiền 320.000 đồng của Phạm Q, xác định đây là tiền dùng vào mục đích đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 10 bộ bài tứ sắc trong đó có 01 bộ đang sử dụng, 07 bộ đã qua sử dụng và 02 bộ chưa qua sử dụng; 01 tấm vải màu xanh sẫm có kích thước (190x145)cm; 01 rổ nhựa màu đỏ là công cụ phạm tội xét không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Q số tiền 2.000.000đồng không dùng vào mục đích phạm tội.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Q nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về phần hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận; về phần xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phạm Q phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Phạm Q 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng)

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 320.000 đồng của bị cáo Q

- Trả lại cho bị cáo Phạm Q số tiền 2.000.000đồng.

Số tiền này hiện đang tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.1043763.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tứ sắc trong đó có 01 bộ đang sử dụng, 07 bộ đã qua sử dụng và 02 bộ chưa qua sử dụng; 01 tấm vải màu xanh sẫm có kích thước (190x145)cm; 01 rổ nhựa màu đỏ. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Q phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ