vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh:

luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 14/03/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Ứng Cƣơng

2. Ông Nguyễn Duy Khƣơng

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Quang– Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/HS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2023 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Minh T (tên gọi khác: không), sinh ngày 18/6/2004 tại Kiên Giang; nơi cư trú: ấp 1, xã A, huyện T, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc V, sinh năm 1972 và bà Trần Kim P, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2022 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh G.

2/ Anh Sử Chung N, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 04/11/2022, Trần Minh T, sinh ngày 18/6/2004 (trú tại ấp 1, xã A, huyện T, tỉnh G) điều khiển xe mô tô biển số 68M1-2983 đi từ nhà đến khu vực đường kênh Sau Làng thuộc ấp N, xã B, huyện T, tỉnh G để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người tên L, T hỏi mua ma tuý giá 290.000 đồng, L đồng ý bán. L kêu đợi để L đi lấy ma túy. L đi đâu một lúc thì quay lại đưa cho T 01 bịch ma túy. T đưa cho Loan 290.000 đồng. T để bịch ma túy trong túi quần jeans rồi điều khiển xe đi về hướng bến đò kênh 4.

Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, T đang đậu xe mô tô cặp bến đò kênh 4 thuộc ấp N, xã B, huyện T, tỉnh G đợi qua đò để về nhà thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần jeans của Toàn 01 bịch nylon trong suốt, được hàn kín, có kích thước 1,7 cm x 2,5 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể dạng rắn. T khai nhận bịch nylon trên là ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1089/KL-KTHS ngày 08/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận như sau: “Các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lương mẫu gửi giám định là 0,3003 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

Trong quá trình giải quyết vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu CITI, màu nâu, số khung 1363979, số máy 1364056. Đã trả cho chủ sở hữu là Trần Quốc V.

- 01 (Một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 1089/2022 ngày 09/11/2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, là chất ma túy còn lại sau khi giám định.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT- VKS- CT ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 1089/2022 ngày 09/11/2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, là chất ma túy còn lại sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 04/11/2022, Trần Minh T điều khiển xe mô tô đi đến ấp N, xã B, huyện T, tỉnh G để mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được bịch ma túy với giá 290.000 đồng của một người tên L, T điều khiển xe đi về hướng bến đò kênh 4 thuộc ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B, huyện T, tỉnh G. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đậu xe cặp bến đò đợi qua đò để về nhà thì bị lực lượng công an huyện T, tỉnh G bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép. Thu giữ trong túi quần của Toàn 01 bịch nylon trong suốt, được hàn kín, chứa các hạt tinh thể màu trắng. Kết luận giám định, bịch ma túy có khối lượng 0,3003 gam loại Methamphetamine.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….; c) Methamphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Như vậy, hành vi của bị cáo cất giấu 0,3003 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với người tên L đã bán ma túy cho T, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không tiến hành triệu tập làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đạo đức cũng như kinh tế của chính bản thân bị cáo mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương đồng thời còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân bị cáo vẫn cố tìm mua ma túy để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang để chịu sự nghiêm trị của pháp luật.

Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án vừa của khung hình phạt cũng là phù hợp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

[7.1.] Đối với 01 (Một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 1089/2022 ngày 09/11/2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Kiên Giang, là chất ma túy còn lại sau khi giám định không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[7.2.] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu CITI, màu nâu, số khung 1363979, số máy 1364056 đã qua sử dụng, quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Trần Quốc V nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ

luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 04/11/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật, vụ số 1089/2022 ngày 09/11/2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, là chất ma túy còn lại sau khi giám định.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 06/QĐ-VKSCT ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ