- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-3-2023 V/v:“Tranh chấp quan hệ hôn nhân, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, T. BÀ RỊA –VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 325/2022/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp quan hệ hôn nhân, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17-02-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27-02-2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1989 (có mặt).
Hộ khẩu thường trú: 5/18/72B Hẻm Hùng Vương, khu phố 4, phường Xuân Trung, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở: 103 Nguyễn Tất Thành, khu phố 1, phường Phước Nguyên, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Bùi Minh N, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Trú tại: Số 60B khu phố 2, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người làm chứng: Bà Bùi Thị Ngọc X, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Trú tại: Số 60B khu phố 2, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 8 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ trình bày:
Bà Nguyễn Thị Anh Đ và ông Bùi Minh N tự nguyện chung sống từ năm 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa ngày 22-5-2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên, sau đó thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, ông N không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, dẫn đến thường xảy ra bất hòa, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn yêu thương nhau. Ngay từ khi mới kết hôn vợ chồng đã sống chung với gia đình mẹ ruột của bà Đ. Khoảng năm 2021, ông N tự ý dọn đồ về sống với cha mẹ ruột mà không sống chung với mẹ con bà Đ nữa. Bà cũng nhiều lần kêu chồng quay về chung sống nhưng ông N không quay về. Từ đó đến nay vợ chồng ly thân không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau, một mình bà Đ phải tự lo kinh tế để nuôi con. Từ khi ly thân cả hai không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà Đ có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông N để ổn định công việc và cuộc sống.
Thời gian Tòa án giải quyết vụ án, ông N không đến Tòa để tham gia hòa giải, bà và ông N cũng không gặp nhau, vợ chồng không ai có thiện chí muốn hàn gắn, tình cảm thực sự không còn nên bà Đ vẫn yêu cầu được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà Đ và ông N có 01 con chung là Bùi Phúc L, sinh ngày 20-12-2017. Hiện cháu đang sống chung với bà Đ nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, bà Đ tự nguyện không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con vì từ nhỏ đến nay một mình bà nuôi con, ông N không có trách nhiệm gì với con cả.
Về tài sản chung: Bà Đ xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Bà Đ xác định mâu thuẫn đã quá căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông N.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập đến Toà làm việc nhưng ông N vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông N.
Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông N và tình trạng mâu thuẫn giữa bà Đ và ông N, kết quả xác định được ông Bùi Minh N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 60B khu phố 2, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hiện ông N và bà Đ không còn chung sống với nhau nữa. Đồng thời, Tòa án cũng tiến hành lấy lời khai người làm chứng để xác định tình trạng mâu thuẫn giữa ông N và bà Đ.
[2]. Về ý kiến của người làm chứng bà Bùi Thị Ngọc X:
Bà Bùi Thị Ngọc X là chị ruột của ông Bùi Minh N. Bà Xuân cho biết, sau khi kết hôn anh N và chị Đ sống chung với gia đình chồng một thời gian ngắn, quá trình chung sống giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng bà Xuân không rõ mâu thuẫn cụ thể như thế nào. Tuy nhiên, cách đây khoảng 3, 4 năm chị Đ dẫn con về nhà mẹ ruột sinh sống. Từ đó đến nay anh N và chị Đ ly thân, không còn chung sống với nhau nữa. Theo bà Xuân thì mâu thuẫn giữa chị Đ và anh N đã xảy ra từ lâu, vợ chồng không còn tình cảm hay quan tâm gì đến nhau vì hai vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay.
Quá trình chung sống, anh N và chị Đ có 1 con chung là Bùi Phúc L, sinh ngày 20-12-2017. Hiện cháu đang sống chung với chị Đ, hiện cháu đang được chăm sóc nuôi dưỡng tốt nên việc chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nhiều lần gửi các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N không hợp tác, không đến Tòa làm việc. Bà X cam kết sẽ giao lại các văn bản tố tụng của Tòa cho anh N. Với tư cách là người làm chứng bà X chỉ khai những gì bà biết về cuộc sống chung giữa anh N và chị Đ. Bà X cam kết lời khai của mình là hoàn toàn đúng sự thật.
[3]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng theo quy định từ các Điều 93 đến Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
- Nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, lời khai người làm chứng và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà Đ đã trầm trọng, vợ chồng đã ly thân không còn sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên nhưng bà Đ vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Đ về việc ly hôn với ông N; về con chung: Giao con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, công nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Đ; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu; về án phí: bà Đ phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Anh Đ có đơn xin ly hôn, ông Bùi Minh N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Bà Rịa nên tranh chấp nói trên được xác định là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Bùi Minh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Anh Đ và ông Bùi Minh N là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, ông N không có trách nhiệm với vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa. Bà Đ cũng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn để chung sống cùng chăm lo nuôi dạy con chung nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng đã ly thân, tình cảm không còn, mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã nhiều lần vận động hòa giải nhưng bà Đ vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N vì theo bà giữa ông bà không còn tình cảm, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài từ lâu nên không thể hàn gắn.
Bản thân ông N biết rõ việc bà Đ yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa làm việc để trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà Đ mà bỏ mặc, điều đó thể hiện ông N không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ kết quả xác minh nơi vợ chồng ông N bà Đ sinh sống và lời khai của người làm chứng là chị ruột của ông N cũng xác định được mâu thuẫn giữa ông N bà Đ là có thật, cả hai không còn chung sống cùng nhau. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bà Đ là có căn cứ, mâu thuẫn giữa bà Đ và ông N là có thật và trầm trọng, dẫn tới cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc ly hôn với ông N.
. Về con chung: Quá trình chung sống bà Đ và ông N có 01 con chung là Bùi Phúc L, sinh ngày 20-12-2017. Hiện cháu đang sống chung với bà Đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Đ cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, từ khi ly thân bà Đ vẫn đảm bảo việc chăm sóc nuôi dạy con chung nên để đảm bảo cho cháu có điều kiện sống tốt nhất, cần chấp nhận yêu cầu của bà Đ về việc nuôi con chung, bà Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Phúc L đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Việc bà Đ không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần công nhận.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bà Đ phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh Đ.
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với ông Bùi Minh N.
+ Về con chung: Bà Nguyễn Thị Anh Đ và ông Bùi Minh N có 01 con chung là Bùi Phúc L, sinh ngày 20-12-2017. Bà Nguyễn Thị Anh Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Phúc L, sinh ngày 20-12-2017 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Công nhận sự tự nguyện của bà Đ về việc không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Anh Đ không có yêu cầu nên không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Anh Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004757 ngày 03-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Như vậy, bà Đ đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09-3-2023), đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND TPBR; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Chi cục THADS TPBR; - Các đương sự; - Lưu Thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Anh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Anh |