vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Bé Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Võ Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Bé Tr được ly hôn với ông Võ Văn Đ. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Võ Thị Kim Ng, sinh ngày 12/4/2019 cho bà Lương Thị Bé Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Võ Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Bé Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Võ Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2023/HNGĐST
Ngày: 03/3/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Quang.

2. Ông Dƣơng Minh Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Lan Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/01/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị Bé Tr, sinh năm: 1975, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Bà Tr có mặt, ông Đ vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

T i đơn kh i kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lương Thị Bé Tr trình bày:

Bà Tr và ông Đ tự nguyện tìm hiểu và đến với nhau thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N vào năm 1996. Vợ chồng chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng hay say xỉn, có hành vi bạo lực gia đình. Hiện nay vợ chồng không còn chung sống, bà Tr đã đi khỏi nhà vì không khắc phục được mâu thuẫn. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà Tr làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Đ.

Về con chung có ba cháu tên Võ Thị Dạ Th, sinh năm: 1997; Võ Thị Thục Q, sinh năm: 2004; Võ Thị Kim Ng, sinh năm: 2019. Th và Q đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Ng, nếu ly hôn yêu cầu Tòa án giao cháu Ng cho bà Tr nuôi, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn Đ trình bày:

Về điều kiện và thời gian kết hôn ông Đ đồng ý như bà Tr khai, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 1996 tại UBND xã Đ; trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng hay cãi vả xô xác. Trong một lần cãi vả, bà Tr tự ý dắt con nhỏ là Ng bỏ nhà đi. Nay bà Tr yêu cầu ly hôn thì ông Đ không đồng ý vì ông Đ còn thương vợ con, yêu cầu Tòa án giải quyết cho đoàn tụ.

Về con chung có ba cháu tên Võ Thị Dạ Th, sinh năm: 1997; Võ Thị Thục Q, sinh ngày 16/6/ 2004; Võ Thị Kim Ng, sinh năm: 2019. Th và Q đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Ng, do ông Đ không muốn ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ hai vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng đối với bị đơn ông Võ Văn Đ không có mặt tại phiên tòa mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ là vi phạm pháp luật tố tụng dân sự; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Lương Thị Bé Tr được ly hôn với ông Võ Văn Đ. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Võ Thị Kim Ng cho bà Tr nuôi dưỡng, bà Tr không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lương Thị Bé Tr có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Võ Văn Đ. Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn thì ông Đ có đăng ký thường trú thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Về thủ tục tố tụng: Ông Đ là bị đơn đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Đ vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do chính đáng, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Bé Tr và ông Võ Văn Đ tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N vào ngày 02/8/1996. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Tr và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Tr, nguyên nhân mâu thuẫn do ông Đ thường xuyên rượu chè say xỉn, bạo lực gia đình, đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không thay đổi. Hiện vợ chồng không còn sống chung, tình cảm không còn. Theo ông Đ nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng cãi vả, bà Tr tự ý dắt con nhỏ là Ng bỏ nhà đi. Nay tình cảm vợ chồng vẫn còn, bà Tr yêu cầu ly hôn ông Đ không đồng ý. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ nhưng hòa giải đoàn tụ không thành do bà Tr cương quyết ly hôn, cả hai không khắc phục được mâu thuẫn. Ông Đ cũng không kiên trì hòa giải thể hiển ở việc Tòa án triệu tập hòa giải lần hai ông vắng mặt. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Tr và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng phần ai nấy sống, không quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Lương Thị Bé Tr được ly hôn với ông Võ Văn Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: bà Tr và ông Đ có ba con chung tên lần lượt là Võ Thị Dạ Th, sinh năm: 1997; Võ Thị Thục Q, sinh ngày 16/6/2004; Võ Thị Kim Ng, sinh năm: 2019. Th và Q đã trưởng thành đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết. Đối với cháu Ng, bà Tr yêu cầu nuôi, ông Đ không yêu cầu giải quyết do không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: việc nuôi con phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ. Hiện nay cháu Ng còn nhỏ, đang ở với bà Tr, bà Tr có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Ng và căn cứ theo quy định của pháp luật nên xét giao con chung Võ Thị Kim Ng, sinh ngày 12/4/2019 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Do bà Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mƣợn nợ chung: Bà Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét

Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà Lương Thị Bé Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Bé Tr về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Võ Văn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Bé Tr được ly hôn với ông Võ Văn Đ.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Võ Thị Kim Ng, sinh ngày 12/4/2019 cho bà Lương Thị Bé Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Võ Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Võ Văn Đ được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở anh Hậu thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lương Thị Bé Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Tr đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011294 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ