vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 277 và Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự;

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Hường Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Phạm Ngọc H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 277 và Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04- 8-2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thoa

Bà Nguyễn Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký TAND thị xã Bỉm Sơn

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số:69/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023, về việc “ Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Đặng Thị H - sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn Thống N, Huyện Yên Đ, tỉnh T.

( Vắng mặt có lý do).

Bị đơn: Phạm Ngọc H- sinh năm 1981

Địa chỉ: Đường Tôn Thất T, khu phố 8, phường B, thị xã B, Th (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2023 nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thống Nhất, huyện Y, tỉnh T ngày 26/01/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại thị trấn Thống N, huyện Y. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, mệt mỏi nên anh H đã bỏ về nhà bố mẹ ở khu phố 8, phường B, thị xã B ở và anh Huân cũng chuyển hộ khẩu về Bỉm Sơn từ năm 2022 và vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay thực sự vợ chồng không còn tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Ngọc H.

- Về con cái: Vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Về phía bị đơn: Tại bản tự khai ngày 28/6/2023 anh Phạm Ngọc Huân trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thống Nhất, huyện Y, tỉnh T ngày 26/01/2018. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sồng vợ chồng luôn mệt mỏi. Khi cưới nhau xong vợ chồng anh ở Tại Yên Định, sau khi vợ chồng mâu thuẫn, anh bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở khu phố 8, phường B, thị xã B ở và anh cũng chuyển hộ khẩu về Bỉm Sơn từ năm 2022. Vì vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng nên hai bên không gặp nhau và cũng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay thực sự vợ chồng không còn tình cảm nên nếu chị Hường làm đơn xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

- Về con cái: Vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Nay vì công việc bận rộn nên anh không có mặt theo giấy triệu tập được. Vì vậy, anh làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn không tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giải quyết xét xử vụ án vắng mặt anh.

Quá trình giải quyết vụ án ngày 13/7/2023 Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo thông báo số:69/TB-TA ngày 05/7/2023. Tuy nhiên chị Đặng Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, anh H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Đặng Thị H và anh Phạm Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vụ án vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh chị Đặng Thị H và anh Phạm Ngọc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào ý kiến phát biểu của đương sự tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Xét về quan hệ pháp luật: Chị Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Ngọc H. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn”; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn theo quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Về yêu cầu của đương sự HĐXX thấy:

Chị Đặng Thị H và anh Phạm Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Y, tỉnh T đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay cả hai đều đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. HĐXX xét thấy, vợ chồng chị H, anh H ly thân từ năm 2022 đến nay, mạnh ai người nấy sống, hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị H và anh Phạm Ngọc H, xử cho chị H được ly hôn với anh Huân là phù hợp.

Về con cái: Vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bởi những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, 271, 273, 277 và Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục mức án phí lệ phí ban hành kèm theo;

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Hường

- Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Phạm Ngọc H

- Về con cái: Vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Hường đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn ngày 13/6/2023 theo biên lai thu số:AA/2021/0005415. Như vậy, chị Đặng Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đặng Thị H và anh Phạm Ngọc H. Chị H, anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định của pháp luật.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ