- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn T và ông Nguyễn M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Huê
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Trường
2. Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Hiền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú– Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 866/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐ-ST ngày 08 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn T, sinh năm 1991 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn M, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: đường A, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 8 năm 2022 và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn T trình bày:
Bà và ông Nguyễn M sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến hành đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 15 tháng 5 năm 2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông M chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng bà thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, ông M còn ngoại tình rồi về nhà đánh đập bà tuy nhiên về nội dung này bà không có tài liệu, chứng cứ gì chứng Mnh. Bà và ông M đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không được. Hiện nay, bà và ông M đã ly thân. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn M.
Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung là cháu Nguyễn P, sinh ngày 20-5-2017 và cháu Nguyễn Đ, sinh ngày 24-10-2019. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn M: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông M đến Tòa án làm việc nhưng ông M không đến làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân giữa bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà T và ông M không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân không hạnh phúc, bà T không còn tình cảm với ông M, mâu thuẫn giữa bà T và ông M không thể hàn gắn. Ông M không đến làm việc, hòa giải theo triệu tập của Tòa, không tham gia các phiên tòa, không thể hiện mong muốn, thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm với bà T. Xét mâu thuẫn của bà T và ông M là có thật, cuộc sống hôn nhân của bà T, ông M không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T; Về con chung: 02 con chung là cháu Nguyễn P, sinh ngày 20-5-2017 và cháu Nguyễn Đ, sinh ngày 24-10-2019. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét 02 con chung đang sinh sống cùng bà T, ông M thường xuyên vắng nhà không chăm sóc con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, giải quyết cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không đề xuất xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Bà Nguyễn T có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Nguyễn M, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bà T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông M.
. Về quan hệ hôn nhân:
Xét bà Nguyễn T và ông Nguyễn M chung sống và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 15 tháng 5 năm 2017. Như vậy, hôn nhân giữa bà T và ông M là hợp pháp.
Trong thời gian bà T và ông M sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông M có ngoại tình, đánh đập bà. Vợ chồng bà T thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập cho ông M nhưng ông M không đến Tòa án làm việc, từ đó cho thấy ông M không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thể hiện thiện chí, nguyện vọng muốn hòa giải, đoàn tụ của ông M. Ngoài ra, ông M không tranh thủ sự tác động, động viên, hòa giải của Pháp luật để hàn gắn hôn nhân giữa ông và bà T. Kết quả xác minh tại địa phương, có thông tin ông M ngoại tình và đánh bà T.
Nay bà T cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông M. Xét mâu thuẫn của bà T, ông M là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, khả năng đoàn tụ rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: 02 con chung là cháu Nguyễn P, sinh ngày 20-5-2017 và cháu Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 24-10-2019. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Xét hiện nay cháu P và cháu Đ đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, sức khỏe…của 02 cháu, bà T có điều kiện tinh thần và vật chất để nuôi dưỡng 02 con chung, ông M thường xuyên vắng nhà, không chăm sóc 02 cong chung, nên Hội đồng xét xử quyết định: Bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu P và cháu Đ; bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn T và ông Nguyễn M ly hôn.
2. Về con chung: Là cháu Nguyễn P, sinh ngày 20-5-2017 và cháu Nguyễn Đ, sinh ngày 24-10-2019 do bà T trực tiếp nuôi dưỡng; bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003255 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố V. Như vậy, bà T đã thi hành xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; - Viện kiểm sát nhân dân TPVT; - Chi cục thi hành án dân sự TPVT; - UBND xã H, huyện N , tỉnh Ninh Thuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huê |