vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vàng Thị N

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị N được ly hôn với anh Lê Đình Đại. Về quan hệ con chung : Giao cháu là Lê Diễm Nhi, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Vàng Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lê Đình Đkhông phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vàng Thị N và Lê Đình Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vàng Thị N
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22/3/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Vũ Thị Hòa

2. Ông Hoàng Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở tòa án nhân dânthành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:12/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc: "Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vàng Thị N, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 4 phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lê Đình Đ, sinh năm 1976

Đăng ký HKTT: Tổ 4 phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Hiện đang cải tạo tại đội 2, phân Trại số 1, Trại giam Hồng Ca, xã Hưng Khánh, huyện Trần Yên, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Vàng Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vàng Thị N và anh Lê Đình Đ đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 5 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đại đi chấp hành án tại trại giam Hồng Ca nên vợ chồng không còn thấu hiểu, chia sẻ yêu thương nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tuy mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên nhủ hòa giải xong đến nay cuộc sống vợ chồng anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Vàng Thị N đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đình Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung cháu tên là Lê Diễm Nhi, sinh ngày 16/8/2016. Quan điểm khi ly hôn chị Nguyệt yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con chung và không yêu cầu anh Đại cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản: Chị Vàng Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trính tố tụng bị đơn anh Lê Đình Đ trình bày: Anh và chị Vàng Thị N đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 5 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì chị Nguyệt vi phạm pháp luật bị phạt 3 năm tù, đến năm 2021 chị Nguyệt được tha tù trước thời hạn, anh chị sống với nhau rất hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, ngày 21/4/2022 anh Đ đi chấp hành án với thời hạn là 30 tháng. Đến nay chị N muốn ly hôn anh nhất trí nhưng với điều kiện sau khi mãn hạn tù anh phải được nuôi cháu Lê Diễm N. Hiện nay do anh Đ vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại trại giam Hồng Ca nên vợ chồng không còn thấu hiểu, chia sẻ yêu thương nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Vì vậy anh Đ xác định không còn tình cảm với chị N nên đề nghị tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung cháu tên là Lê Diễm N , sinh ngày 16/8/2016. Quan điểm khi ly hôn do anh Đ đang phải đi chấp hành án nên nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Lê Diễm Nhi cho chị N được nuôi con chung và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh Lê Đình Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lê Đình Đ đầy đủ, đảm bảo theo quy định của pháp luật nhưng anh Đại hiện đang chấp hành án tại trại giam Hồng Ca không đến Tòa án tham gia hòa giải vụ án nhưng đã có bản tự khai nêu ra ý kiến của mình đối với vụ án. Tại phiên tòa, chị Vàng Thị N và anh Lê Đình Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và tại đơn xin vắng mặt chị N và anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lê Đình Đđầy đủ, đảm bảo theo quy định của pháp luật nhưng anh Đại hiện đang chấp hành án tại trại giam Hồng Ca không đến Tòa án tham gia hòa giải nhưng đã có bản tự khai nêu ra ý kiến của mình đối với vụ án.Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị Vàng Thị N và anh Lê Đình Đtrên cơ sở căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Vàng Thị N và anh Lê Đình Đđăng ký kết hôn ngày 12 tháng 5 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tuyển, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đại đi chấp hành án tại trại giam Hồng Ca nên vợ chồng không còn thấu hiểu, chia sẻ yêu thương nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tuy mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên nhủ và hòa giải xong đến nay cuộc sống vợ chồng anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Vàng Thị N là có căn cứ, phù hợp theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung là Lê Diễm Nhi, sinh ngày 16/8/2016. Khi ly hôn chị Nguyệt đề nghị Tòa án giải quyết cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Diễm Nhi và không yêu cầu anh Đại cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyệt làm nghề tự do và có thu nhập, hàng tháng thu nhập khoảng 5.000.000 đồng, Nguyện vọng của anh Đại khi ly hôn đề nghị tòa án giao cháu Lê Diễm Nhi cho chị Nguyệt nuôi dưỡng vì anh Đại còn phải đi chấp hành án phạt tù tại trại giam Hồng Ca không có khả năng nuôi con nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lê Diễm Nhi cho chị Nguyệt trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về quan hệ tài sản: Chị Vàng Thị N và anh Lê Đình Đkhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Vàng Thị N phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vàng Thị N

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị N được ly hôn với anh Lê Đình Đại.

2.Về quan hệ con chung : Giao cháu là Lê Diễm Nhi, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Vàng Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Lê Đình Đkhông phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Anh Lê Đình Đcó quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

2. Về án phí: Chị Vàng Thị N phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000042 ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Vàng Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vàng Thị N, bị đơn anh Lê Đình Đđược quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ