vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị Yến Tr, cho chị Tr và anh Nguyễn Trọng T được ly hôn với nhau.

2/ Giao con chung tên là Nguyễn Phương L, sinh ngày 15/02/2012 cho chị Tr nuôi; giao con chung tên là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 28/12/2014 cho anh T nuôi. Anh T và chị Tr có khả năng nuôi con nên không ai yêu cầu cấp dưỡng. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thay đổi việc nuôi con sau kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VŨ THỊ YẾN TR - NGUYỄN TRỌNG T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị Yến Tr, cho chị Tr và anh Nguyễn Trọng T được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24/03/2023
V/v tranh chấp “ ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN VIẾT XUÂN

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Khắc Quế

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Th ký phiªn tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - là thư ký Tòa án TP. B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 24/03/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: số: 06/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 01 năm 2023 về việc tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXX - ST ngày 07/03/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Yến Tr, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số nhà 88/27 đường Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số nhà 88/27 đường Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

+ Nguyên đơn chị Vũ Thị Yến Tr trình bày: Chị Tr và anh Nguyễn Trọng T kết hôn với nhau vào ngày 15/02/2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu được khoảng 04 năm. Từ khi về sống chung với nhau năm 2012 cho đến nay, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng, ngược đãi nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị Tr đề nghị Tòa án cho được ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

2. Bị đơn anh Nguyễn Trọng T trình bày: Anh T và bà Vũ Thị Yến Tr kết hôn với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn về sống với nhau từ năm 2012 cho đến nay, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau, do chị Tr có người đàn ông khác bên ngoài, nhiều lần anh T khuyên vợ trở về đoàn tụ nhưng chị Tr không nghe. Nay chị Tr yêu cầu ly hôn thì anh T không đồng ý ly hôn, vì lý do gia đình theo đạo thiên chúa không được phép ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

+ Về con chung: Chị Tr và anh T khai vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Phương L, sinh ngày 15/02/2012 và Nguyễn Nhật M, sinh ngày 28/12/2014. Hiện nay cháu L đang ở với chị Tr , còn cháu M đang ở với anh T. Khi ly hôn vợ chồng thỏa thuận chị Tr nuôi cháu L, anh T nuôi cháu M. Anh T và chị Tr có khả năng nuôi con nên không ai yêu cầu cấp dưỡng.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Còn ông T cũng có đơn xin xét xử vắng mặt và cho rằng mình theo đạo thiên chúa giáo không được phép ly hôn, nên không đồng ý.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát thành phố Bảo Lộc phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của hội đồng xét xử; xác định mối quan hệ tranh chấp đều đúng pháp luật. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị Yến Trang và cho chị Tr được ly hôn với ông Ngyễn Trọng T. Về con chung giao cháu Nguyễn Phương L, sinh ngày 15/02/2012 cho bà Tr nuôi; giao cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 28/12/2014 cho ông T nuôi. Do cả hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về pháp luật tố tụng: Chị Vũ Thị Yến Tr và anh Ngyễn Trọng T kết hôn với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nay chị Tr xin ly hôn mà anh T hiện đang cư trú tại xã T, TP. B. Do đó quan hệ tranh chấp là “ ly hôn” được quy định tại Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

[2].Về pháp luật nội dung: Chị Vũ Thị Yến Tr và anh Ngyễn Trọng T kết hôn với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nay chị Tr xin ly hôn anh T, quan hệ tranh chấp được xác định là “ tranh chấp ly hôn, T/c về nuôi con ”. Xét thấy nội dung vụ án ly hôn này phù hợp với các quy định tại các Điều 51, 56, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, do đó căn cứ luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.

[3]. Từ những tài liệu và chứng cứ nêu trên, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn Hội đồng xét xử nhận định và Kết luận:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Yến Tr và anh Ngyễn Trọng T kết hôn với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Trong quá trình chung sống do tính tình đôi bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, cãi vã, ngược đãi nhau. Đến năm 2022 thì vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay, mạnh ai người đó sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải, thuyết phục chị Tr trở về đoàn tụ với anh T nhưng chị Tr vẫn kiên quyết xin được ly hôn. Đối với anh T biết tình cảm vợ chồng rất trầm trọng nhưng không có giải pháp gì để thuyết phục được chị Tr trở về đoàn tụ.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tr và anh T kéo dài không khắc phục được. Tình cảm vợ chồng mà chị Tr dành cho anh T là không còn và rất trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được kết quả hạnh phúc. Do đó căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Tr và cho chị Tr được ly hôn với anh T là đúng pháp luật.

- Về con chung: Chị Tr và anh T khai vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Phương L, sinh ngày 15/02/2012 và Nguyễn Nhật M, sinh ngày 28/12/2014. Hiện nay cháu L đang ở với chị Tr, còn cháu M đang ở với anh T. Nay chấp nhận sự thỏa thuận của vợ chồng là chị Tr nuôi cháu L, anh T nuôi cháu M. Anh Trường và chị Trang có khả năng nuôi con nên không ai yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr và anh T khai thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.

[4].Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, 35, 147 k4, 227 k1, 273 k1 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội qui định về án phí dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị Yến Tr, cho chị Tr và anh Nguyễn Trọng T được ly hôn với nhau.

2/ Giao con chung tên là Nguyễn Phương L, sinh ngày 15/02/2012 cho chị Tr nuôi; giao con chung tên là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 28/12/2014 cho anh T nuôi. Anh T và chị Tr có khả năng nuôi con nên không ai yêu cầu cấp dưỡng.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo qui định của luật hôn nhân và gia đình.

3/ Về án phí: Chị Vũ Thị Yến Tr phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí trước đây là 300.000đ tại biên lai số 0005517 ngày 11 tháng 01 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự TP. Bảo Lộc. Chị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4/ Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND xã, phường nơi người đó cư trú theo quy định của luật tố tụng dân sự.

Tr êng hîp b¶n ¸n, QuyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 luËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù. Ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ 9 luËt thi hµnh ¸n d©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 30 luËt thi hành án.

Cỡ chữ