vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyệt A được ly hôn anh Hoàng Tuấn T.

Về việc nuôi con: Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T có hai con chung là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 và Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010. Con lớn là Hoàng Tuấn Dương đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao con nhỏ là Hoàng Tùng Phong cho chị Lê Thị Nguyệt… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị A và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyệt A được ly hôn anh Hoàng Tuấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Phạm Thị Thao

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nguyệt A, nơi ĐKHKTT: Đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hoàng Tuấn T, nơi ĐKHKTT: Đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

.NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27 tháng 9 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Nguyệt A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Tuấn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2001 tại Ủy ban nhân dân phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Năm 2015, anh T làm cam kết hứa sửa đổi nhưng do chị A đã mất lòng tin nên cuộc sống gia đình căng thẳng, thường xuyên xảy ra va chạm cãi vã nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị A xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Tuấn T.

- Về việc nuôi con: Chị và anh Hoàng Tuấn T có hai con chung là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 và Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010. Con Hoàng Tuấn Dương đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị Tòa án giao con Hoàng Tùng Phong cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về việc chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Hoàng Tuấn T trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận anh và chị Lê Thị Nguyệt A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2001 tại Ủy ban nhân dân phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2015 thì anh có lỗi với chị A là quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng anh đã hứa sửa đổi bản thân, còn chị A có cảm nhận được như vậy không thì anh không biết. Anh chị vẫn sống chung một nhà nhưng chị A chủ động sống ly thân với anh, còn về con cái anh vẫn quan tâm bình thường. Nay chị A đề nghị ly hôn, quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn do anh muốn giữ gia đình cho con cái. Trường hợp chị A kiên quyết xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về việc nuôi con: Anh và chị A có hai con chung là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 và Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010. Trường hợp phải ly hôn quan điểm của anh như sau: Con Hoàng Tuấn Dương đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về con Hoàng Tùng Phong, anh đồng ý để chị A trực tiếp nuôi do anh không có nơi ở ổn định. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh và chị A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về việc chia tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị Nguyệt A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Hoàng Tuấn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị A và anh T, nội dung vẫn giữ nguyên quan điểm như tại quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị Nguyệt A được ly hôn anh Hoàng Tuấn T. Về việc nuôi con, con lớn là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 đã thành niên nên không xem xét giải quyết; giao con nhỏ là Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010 cho chị A trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị A và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản, chị A và anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Chị A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem

- Về pháp luật tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Chị Lê Thị Nguyệt A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

Chị Lê Thị Nguyệt A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Tuấn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về pháp luật nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của chị A và anh T qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Anh chị tuy sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị A và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về việc nuôi con:

Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T có có hai con chung là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 và Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010. Con lớn Hoàng Tuấn Dương đã thành niên nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh chị đã thỏa thuận giao cháu Hoàng Tùng Phong cho chị A nuôi; cháu Phong cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị A và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nguyệt A, giao cháu Hoàng Tùng Phong cho chị A trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về việc chia tài sản:

Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Chị Lê Thị Nguyệt A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nguyệt A được ly hôn anh Hoàng Tuấn T.

2. Về việc nuôi con: Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T có hai con chung là Hoàng Tuấn Dương, sinh ngày 13/9/2002 và Hoàng Tùng Phong, sinh ngày 27/7/2010. Con lớn là Hoàng Tuấn Dương đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giao con nhỏ là Hoàng Tùng Phong cho chị Lê Thị Nguyệt A trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc chia tài sản: Chị Lê Thị Nguyệt A và anh Hoàng Tuấn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Nguyệt A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006766 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị Nguyệt A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn chị Lê Thị Nguyệt A và bị đơn anh Hoàng Tuấn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Ngô Quyền;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Đương sự;

- UBND phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (ĐKHK ngày 26/12/2001);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Đào Thị Hảo THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hảo THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hảo

Cỡ chữ