- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/7/2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Long
Ông Nguyễn Văn Điều
Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13/7/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2023/TLST-HNGĐ, ngày 04/4/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/5/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 2001. Có mặt
HKTT: Thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1993. Vắng mặt
HKTT: Thôn Chân Lạc, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Vĩnh Quang, phân trại số 2 xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Duy L kết hôn ngày 03/12/2019. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiều và đăng ký kết hôn tại UBND xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong theo đúng quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh L chung sống, làm ăn. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 9/2020, nguyên nhân là do anh L bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” và bị xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Sau đó anh L thường xuyên vắng nhà, chơi bời lô đề, nợ nần và chị phải trả nợ đậy cho anh L. Đến tháng 10/2020, chị bị mẹ chồng và em chồng chửi bới, đánh đập nhưng anh L bỏ mặc cho mâu thuẫn của chị và gia đình nhà chồng diễn ra, không quan tâm, chia sẻ với chị, từ đó dẫn đến vợ chồng lạnh nhạt, xa lánh. Mâu thuẫn trầm trọng là vào đầu năm 2021, chị khuyên can nhiều nhưng anh L vẫn chơi bời và anh L bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 04 năm 03 tháng tù. Hiện nay, anh L đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Vợ chồng ly thân từ ngày 05/02/2021, từ đó đến nay hai mẹ con chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Chị và anh L không quan hệ qua lại từ đó đến nay. Nay, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm và xin ly hôn anh L.
* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 30/9/2020. Ly hôn chị xin nuôi cháu Thanh, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Chị đang làm công nhân công ty Samsung, thu nhập trung bình 10-13 triệu/tháng. Ngoài ra chị sống cùng bố mẹ đẻ tôi có nhà đất ổn định nên có đủ điều kiện nuôi con.
* Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Nguyễn Duy L trình bày: Anh L xác nhận lời trình bày của chị Th về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh bị Toà án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Ngày 05/02/2021, anh bị cơ quan công an bắt tạm giam và đến ngày 30/9/2021 anh bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 04 năm 03 tháng tù. Anh có biết mâu thuẫn giữa chị Th và gia đình nhà chồng nhưng do anh đang chấp hành hình phạt tù nên anh không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng cũng như mối quan hệ giữa gia đình anh với chị Th. Khi chị Th sinh con được gần 01 tháng, do mâu thuẫn giữa chị Th với gia đình anh nên vợ chồng đã phải sang nhà bố mẹ vợ để sinh sống. Nay, anh xác định vẫn còn tình cảm và mong muốn về đoàn tụ vợ chồng để cùng nuôi dạy con.
Về con chung: anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị Th trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn, anh xin nuôi cháu Thanh, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của các đương sự là đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Th và anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Th được ly hôn anh L.
- Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 30/9/2020. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Duy L theo đúng mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Chị Th và anh L đều cư trú tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Duy L kết hôn ngày 03/12/2019. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiều và đăng ký kết hôn tại UBND xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong theo đúng quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, chị Th về nhà anh L chung sống, làm ăn chung. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 9/2020, nguyên nhân do anh L thường xuyên vắng nhà, chơi bời lô đề, nợ nần và chị Th phải trả nợ đậy cho anh L. Đến tháng 10/2020, chị Th bị mẹ chồng và em chồng chửi bới, đánh đập chị nhưng anh L bỏ mặc cho mâu thuẫn của chị Th và gia đình nhà chồng diễn ra, không quan tâm, chia sẻ với chị Th, từ đó dẫn đến vợ chồng lạnh nhạt, xa lánh. Mâu thuẫn trầm trọng là vào đầu năm 2021, chị Th khuyên can nhiều nhưng anh L vẫn chơi bời dẫn đến hành vi phạm tội . Ngày Anh L bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” và bị xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ngày 30/9/2021, anh L bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 04 năm 03 tháng tù. Hiện anh L đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Vợ chồng ly thân từ ngày 05/02/2021, từ đó đến nay chị Th và con sang nhà bố mẹ đẻ sinh sống.
HĐXX nhận định mâu thuẫn vợ chồng chị Th, anh L là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Anh L không đồng ý ly hôn nhưng vẫn chơi bời, nợ nần, không thay đổi, không có biện pháp gì hàn gắn quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa chị Th với gia đình nhà chồng. Hiện, anh L đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Th là chính đáng và cần được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 30/9/2020. Ly hôn, chị Th xin nuôi cháu, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L xin nuôi con chung là Nguyễn Thị Phương Thanh, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 30/9/2020, cháu Thanh còn nhỏ, hiện cháu Thanh chưa đủ 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc và nuôi dưỡng của người mẹ. Xét về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, chị Th hiện đang ở với bố mẹ đẻ. Bố mẹ đẻ chị Th có nhà đất ổn định tại Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và đảm bảo về nơi ở ổn định cho mẹ con chị Th. Chị Th là hiện đang làm công nhân công ty Sam Sung, có việc làm ổn định, thu nhập từ 10-13 triệu đồng/ tháng, chị Th có đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh L hiện đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc không thể chăm sóc nuôi dưỡng con chung được. Do vậy, cần giao con chung là cháu Nguyễn Thị Phương Thanh cho chị Th nuôi dưỡng chăm sóc là phù hợp.
Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 262, 264, 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th. Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Duy L.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Phương Thanh, sinh ngày 30/9/2020. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau ly hôn.
3. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Th đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2022/0000920 ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Long - Nguyễn Văn Điều
Vũ Thu Trang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Yên Phong; - Thi hành án huyện Yên Phong; - Đương sự; - Lu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Thu Trang |