vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị D. Về quan hệ hôn nhân chị Tòng Thị D được ly hôn với anh Giàng Văn Ng.

Về con chung: Giao hai con chung là cháu Giàng Thị Kim Ng – sinh ngày 01/4/2010 và cháu Giàng Thị Ngọc L – sinh ngày 14/12/2011 cho chị Tòng Thị Danh chăm sóc, giáo dục. Anh Giàng Văn Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Tòng Thị D và anh Giàng Văn Ng không có ý kiến… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tòng Thị Danh, Giàng Văn Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị D. Về quan hệ hôn nhân chị Tòng Thị D được ly hôn với anh Giàng Văn Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 9 năm 2023
“Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Cường, ông Lường Văn Quý

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia

phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Tòng Thị D, sinh năm: 1991 – Vắng mặt có đơn xin xét

xử vắng mặt

Địa chỉ: bản Pa T 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu;

2. Bị đơn: anh Giàng Văn Ng, sinh năm 1981 - vắng mặt lần 2.

Địa chỉ: bản Pa T 1, xã Pa T, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Tòng Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Giàng Văn Ng kết hôn ngày 14/10/2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã trong đời sống hàng ngày hiện đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện không còn quan tâm đến nhau, hai vợ chồng được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thay đổi được. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyên;

Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là cháu: Giàng Thị Kim Ng – sinh ngày 01/4/2010 và cháu Giàng Thị Ngọc L – sinh ngày 14/12/2011. Tôi đề nghị được chăm sóc, giáo dục cả hai cháu do anh Ng không quan tâm và chăm lo cho các con. Về cấp dưỡng nuôi con: tôi và anh Ng không đề nghị, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Giàng Văn Ng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án và đơn khởi kiện của chị Tòng Thị Danh (bản phô tô); Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa cho anh Giàng Văn Ng nhưng anh không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh Ng tại địa phương, bố đẻ anh Ng và hàng xóm sinh sống gần nhà anh chị thể hiện nội dung như trình bày trên của chị D. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và niêm yết tại chính quyền địa phương, tuy nhiên anh Giàng Văn Nguyên không có mặt tại Tòa án và không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án, anh Nguyên đã vắng mặt không có lý do tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất, tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn anh Giàng Văn Nguyên vẫn vắng mặt không có lý do. Nên Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết Tòa án đã lấy lời khai hai con chung của anh Giàng Văn Ng và chị Tòng Thị D: cháu Giàng Thị Kim Ng và cháu Giàng Thị Ngọc L, các cháu trình bày nếu bố mẹ cháu ly hôn, hai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ vì bố hay mắng và không quan tâm chăm sóc các cháu.

Quan điểm của đại diện VKSND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Về thủ tục Tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Tòng Thị D đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; anh Giàng Văn Ng chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: chị D và anh Giàng Văn Ng kết hôn hợp pháp, sau khi kết hôn thì thường xuyên xảy ra cãi vã trong đời sống hàng ngày không còn chăm sóc quan tâm đến nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tòng Thị D, tuyên xử cho chị D được ly hôn với anh Giàng Văn Ng.

Về con chung: chị Tòng Thị D và anh Giàng Văn Ng có hai con chung là cháu Giàng Thị Kim Ng và cháu Giàng Thị Ngọc L có nguyện vọng được ở với mẹ vì bố hay mắng và không quan tâm chăm sóc các cháu, chị Danh nhận là người chăm sóc cả hai cháu nên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại Điều 58, Điều 69, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Giao cả hai cháu cho mẹ là chị Tòng Thị Danh chăm sóc, giáo dục, anh Nguyên có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Danh và anh Giàng Văn Nguyên không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Tòng Thị Danh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Chị Tòng Thị D nộp đơn khởi kiện về việc: “Ly hôn, nuôi con chung,”, tại Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đối với anh Giàng Văn Ng; địa chỉ: bản Pa Tần 1, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Chị D có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Tòng Thị D là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 16/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị Danh, theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS.

- Về thẩm quyền giải quyết: Ly hôn, nuôi con chung, giữa chị Tòng Thị D và anh Giàng Văn Ng đều cư trú tại bản Pa Tần 1, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

- Bị đơn Anh Giàng Văn Ng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn chị Tòng Thị D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: chị D và anh Ng kết hôn hợp pháp, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Ủy ban nhân dân xã Pa Tần, lấy lời khai của bố đẻ, em rể của anh Nguyên và lấy lời khai của trưởng bản nơi sinh sống của anh nguyên xác nhận: chị Tòng Thị Danh và anh Giàng Văn Nguyên có mâu thuẫn và đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án, chị Danh đã ly thân và không ở cùng anh Giàng Văn Nguyên. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc hai vợ chồng không còn hạnh phúc, có mâu thuẫn là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định cả hai anh chị đã vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng, dẫn đến không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Danh giải quyết cho chị Tòng Thị Danh ly hôn với anh Giàng Văn Nguyên.

Về con chung: chị Tòng Thị D và anh Giàng Văn Ng có hai con chung. Xét nguyện vọng của nguyên đơn chị Tòng Thị D và ý kiến của hai con chung cả hai cháu có nguyện vọng được ở mẹ nên giao cả hai cháu cho mẹ chăm sóc, giáo dục. Anh Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Tòng Thị D, anh Ng không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét. Căn cứ các quy định tại điều 58, điều 69, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét về con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện VKS huyện Sìn Hồ tại phiên Tòa là có cơ sở pháp luật nên chấp nhận.

Về Án phí: Chị Tòng Thị D là người dân tộc thiểu số có nơi thường trú tại bản Pa Tần 1, xã Pa Tần, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thuộc khu vực III là xã đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên chị Tòng Thị Danh được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 60, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 238; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị D. Về quan hệ hôn nhân chị Tòng Thị D được ly hôn với anh Giàng Văn Ng.

2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Giàng Thị Kim Ng – sinh ngày 01/4/2010 và cháu Giàng Thị Ngọc L – sinh ngày 14/12/2011 cho chị Tòng Thị Danh chăm sóc, giáo dục. Anh Giàng Văn Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Tòng Thị D và anh Giàng Văn Ng không có ý kiến hay văn bản yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập xem xét.

Các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và Gia đình.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hai vợ chồng không đề nghị nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: chị Tòng Thị D được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: chị Tòng Thị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Giàng Văn Ng vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ