vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Đức M được ly hôn chị Đoàn Thị Như N.

Về con chung: Xử giao con chung Đinh Đoàn G sinh ngày 29/6/2019 cho anh Đinh Đức M trực tiếp nuôi, anh M không yêu cầu chị Đoàn Thị Như N cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung giữa anh Đinh Đức M và chị Đoàn Thị Như N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Đức M được ly hôn chị Đoàn Thị Như N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14A/2023/HNGĐ-ST
Ngày 02/3/2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung giữa anh M và chị N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Gia Khải

2.Ông Phạm Ngọc Túy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2022/TLST–HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đinh Đức M sinh năm 1996

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Như N sinh năm 2001

Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn B, huyện P, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa có mặt anh M, vắng mặt chị N)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Đinh Đức M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đoàn Thị Như N tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B vào ngày 12/02/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh. Quá trình chung sống đến tháng 6/2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào vào tháng 9/2021, chị N đã bỏ về thị trấn An Bài sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, anh xin ly hôn chị N.

Về con chung: Anh và chị Đoàn Thị Như N có 01 con chung là Đinh Đoàn G sinh ngày 29/6/2019, hiện đang ở với anh. Ly hôn, anh nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án chị Đoàn Thị Như N vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Kết quả xác minh với gia đình chị Đoàn Thị Như N và cơ sở Tổ A, thị trấn B thấy: Anh Đinh Đức M và chị Đoàn Thị Như N là vợ chồng. Quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì gia đình và chính quyền không biết, chỉ biết chị N chung sống tại gia đình anh M được thời gian ngắn thì chị N không sinh sống tại gia đình anh M nữa. Nay anh M có đơn xin ly hôn chị N gia đình và chính quyền cơ sở đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh M và chị N có 01 con chung là Đinh Đoàn G sinh ngày 29/6/2019, hiện đang ở với anh M. Nếu Tòa án giải quyết cho anh M và chị N ly hôn về nuôi con và cấp dưỡng cho con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản: gia đình và chính quyền cơ sở không rõ về tài sản của anh M và chị N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho anh Đinh Đức M được ly hôn chị Đoàn Thị Như N; Xử giao con chung Đinh Đoàn Gsinh ngày 29/6/2019 cho anh Đinh Đức M trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con. Chị N có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom và giáo dục con chung; Về tài sản: không đặt ra giải quyết; Anh M phải chịu cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Anh Đinh Đức M khởi kiện ly hôn, nuôi con chung với chị Đoàn Thị Như N, do chị N là bị đơn cư trú tại Tổ A, thị trấn B, huyện P, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện P, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Đinh Đức M và chị Đoàn Thị Như N xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân thị trẩn B, huyện P, tỉnh Thái Bình cấp đăng ký kết hôn số 11 ngày 12/02/2020 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 6/2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tin yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 9/2021, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay anh M xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, anh xin ly hôn chị N. Toà án đã ấn định thời hoà giải nhưng chị N cố tình không có mặt, chị N không có thiện chí hoà giải đoàn tụ, anh M đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa. Mặt khác trong suốt quá trình giải quyết vụ án đến nay vợ chồng vẫn tiếp tục ly thân, không ai quan tâm đến ai, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh M và chị N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử cho anh M được ly hôn chị N là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Đinh Đức M và chị Đoàn Thị Như N có 01 con chung là Đinh Đoàn G sinh ngày 29/6/2019, hiện đang ở với anh M. Ly hôn, anh M có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con, còn chị N không có ý kiến trình bày. Xét nguyện vọng nuôi con của anh M thấy rằng, nguyện vọng nuôi con của anh là chính đáng, con đang ở trực tiếp với anh lại trên 36 tháng tuổi nên cần giao con cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Anh Đinh Đức M không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Đoàn Thị Như N không có ý kiến trình bày nên về tài sản chung Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh Đinh Đức M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Anh Đinh Đức M và chị Đoàn Thị Như N có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Đức M được ly hôn chị Đoàn Thị Như N.

2.Về con chung: Xử giao con chung Đinh Đoàn G sinh ngày 29/6/2019 cho anh Đinh Đức M trực tiếp nuôi, anh M không yêu cầu chị Đoàn Thị Như N cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xét.

4.Về án phí: Anh Đinh Đức M phải chịu cả 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng anh M đã nộp theo biên lai thu số 0004809 ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thành tiền án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Anh Đinh Đức M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đoàn Thị Như N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ