vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thanh Ph.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Diễm Tr, sinh ngày 18/12/2010 và Trần Thị Thùy Q, sinh ngày 07/01/2013 cho chị Phạm Thị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện 02 con chung đang sống với chị D. Chị Phạm Thị D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trần Thanh Ph trong việc …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị D đối với anh Ph"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thanh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-02-2023
“Tranh chấp về hôn nhân và gia
đình - Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Thanh Cao;

2. Ông Đặng Văn Hai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/20223/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 392/3, ấp Định Th, xã Định H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh Ph, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 71A/3, ấp Định Th, xã Định H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị D có mặt, anh Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu nhau, chị D và anh Ph được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Định Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 18/3/2011. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Ph có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và thường xuyên vắng nhà, không quan tâm đến vợ con nên từ cuối năm 2020, chị D đã đưa hai con về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Khoảng thời gian không sống chung, chị D và anh Ph không gặp nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người đều có cuộc sống riêng nên chị Phạm Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh Ph.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Diễm Tr, sinh ngày 18/12/2010 và Trần Thị Thùy Q, sinh ngày 07/01/2013, hiện 02 con chung đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn Trần Thanh Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phạm Thị D yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Trần Thanh Ph, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Trần Thanh Ph có địa chỉ cư trú tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Trần Thanh Ph để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng anh Trần Thanh Ph vẫn không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Trần Thanh Ph theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, chị D và anh Ph được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Định H, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 18/3/2011 theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị D và anh Ph trong thời gian chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị D trình bày là do anh Ph có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và thường xuyên vắng nhà, không quan tâm đến vợ con nên từ cuối năm 2020, chị D đã đưa hai con về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Khoảng thời gian xa nhau, chị D và anh Ph không hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh Trần Thanh Ph về nội dung yêu cầu khởi kiện của chị D, các thông báo và triệu tập để hòa giải, giải quyết vụ án nhưng anh Ph vẫn không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất kỳ ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, chứng tỏ anh Ph không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh Ph đã trầm trọng nên vợ chồng không sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay và đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị D.

[2.3] Xét về con chung: Chị Phạm Thị D và anh Trần Thanh Ph có 02 con chung tên Trần Thị Diễm Tr, sinh ngày 18/12/2010 và Trần Thị Thùy Q, sinh ngày 07/01/2013, hiện 02 con chung đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được ổn định cuộc sống, nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Khoảng thời gian chị D và anh Ph không sống chung, cháu Tr và cháu Q đã có cuộc sống ổn định với chị D và các cháu được chăm sóc tốt, phát triển về mọi mặt. Vì vậy, giao 02 con chung cho chị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để các cháu có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của cháu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Tr và cháu Q muốn được sống chung với mẹ là chị D.

[2.4] Xét về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị D không yêu cầu anh Trần Thanh Ph cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Thanh Ph.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Diễm Tr, sinh ngày 18/12/2010 và Trần Thị Thùy Q, sinh ngày 07/01/2013 cho chị Phạm Thị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện 02 con chung đang sống với chị D.

Chị Phạm Thị D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trần Thanh Ph trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị D không yêu cầu anh Trần Thanh Ph cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí và tạm ứng án phí:

Chị Phạm Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010681 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (chị D đã nộp xong án phí).

6. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2023). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ