- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn giữa nguyên đơn chị Mạc Thị T và bị đơn anh Vi Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị T được ly hôn anh Vi Văn H;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2023/HNGĐ-ST Ngày 24 tháng 7 năm 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1, Bà Vi Thị Khiểu.
2, Bà Thái Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc Ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/TBMLPT-ST ngày 10 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mạc Thị T, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: bản HT, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Chỗ ở hiện nay: Bản P, xã LK, huyện TD, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vi Văn H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: bản HT, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 11 năm 2022 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Mạc Thị T trình bày: Chị Mạc Thị T và anh Vi Văn H tổ chức đám cưới và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Mạc Thị T đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Vi Văn H.
Về con: Vợ chồng có ba con chung gồm: con đầu tên Vi Thị Mai A, sinh ngày 04/01/2006; con thứ hai và thứ ba tên là Vi Thị Thảo N, Vi Thị Thảo M, đều sinh ngày 04/9/2007 (sinh đôi). Nếu có ly hôn chị Mạc Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi các con và không yêu cầu anh Vi Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Vi Văn H trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã triệu tập nhiều lần và niêm yết công khai Thông báo thụ lí vụ án, Thông báo về phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh Vi Văn H không có mặt, vì vậy trong vụ án này phía bị đơn không thể hiện được yêu cầu gì đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của phía nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lí vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Vi Văn H trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành Niêm yết công khai Thông báo thụ lí vụ án, Thông báo về phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh Vi Văn H không có mặt nên việc Tòa án án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Mạc Thị T và anh Vi Văn H được ly hôn nhau. Về con: Giao các con chưa đến tuổi trưởng thành là Vi Thị Mai A, sinh ngày 04/01/2006, Vi Thị Thảo N và Vi Thị Thảo M, đều sinh ngày 04/9/2007 cho chị Mạc Thị T trực tiếp nuôi con, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Chị Mạc Thị T yêu cầu ly hôn với anh Vi Văn H có Hộ khẩu thường trú tại bản HT, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Vi Văn H đều vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại trụ sở Ủy ban nhân dân Xã và nơi cư trú của bị đơn anh Vi Văn H nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị T là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Mạc Thị T và anh Vi Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp, hiện nay chị Mạc Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Vi Văn H; Hội đồng xét xử nhận thấy rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình cảm hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần quyết định cho chị Mạc Thị T và anh Vi Văn H được ly hôn nhau.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung gồm: con đầu tên Vi Thị Mai A, sinh ngày 04/01/2006; con thứ hai và thứ ba tên là Vi Thị Thảo N, Vi Thị Thảo M, đều sinh ngày 04/9/2007 (sinh đôi). Cả ba chon đều có đơn nguyện vọng ở với mẹ là chị Mạc Thị T, chị Mạc Thị T cũng yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Vi Văn H cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy đây là nguyện vọng của các cháu và sự tự nguyện của chị Mạc Thị T. Bị đơn Vi Văn H vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến gì trước yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao các con chung là Vi Thị Mai A, Vi Thị Thảo N và Vi Thị Thảo M cho chị Mạc Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn H.
Về tài sản và các khoản nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án về ly hôn, chị Mạc Thị T là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/20/16 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị T được ly hôn anh Vi Văn H;
2. Về con cái: Giao các cháu Vi Thị Mai A (sinh ngày 04/01/2006), Vi Thị Thảo N, Vi Thị Thảo M (đều sinh ngày 04/9/2007) cho chị Mạc Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Văn H. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm non chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Buộc chị Mạc Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0004272 ngày 23/11/2022 tại Chị cục thi hành án huyện KS, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/02/2023). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - UBND xã CL, huyện KS; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |