vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Đinh Khắc Đ được ly hôn với chị Lò Thị T. Về con chung: giao cháu Đinh Thị Trà M, sinh ngày 08/9/2017 cho anh Đinh Khắc Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 6/2023 đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lò Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Đinh Khắc Đ và Lò Thị T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 28- 6 - 2023.
V/v : Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thúy Chính.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân.

Bà Ngô Thị Mai Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Đinh Khắc Đ, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: thôn 7, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: chị Lò Thị T, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: thôn 7, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt lần thứ 2 không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2023 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Đinh Khắc Đ trình bày: anh và chị Lò Thị T đăng ký kết hôn ngày 16/01/2013 tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh và chị T chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã. Anh Đ và chị Lò Thị T đã ly thân từ tháng 10/2018 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lò Thị T.

Về con chung: anh và chị Lò Thị T có 01 con chung là cháu Đinh Thị Trà M, sinh ngày 08/9/2017. Nay ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cháu M cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Lò Thị T không phải cấp dưỡng nuôi dưỡng và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: anh và chị Lò Thị T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: anh Đinh Khắc Đ xin chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Lò Thị T. Nhưng chị T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.

Ngày 04/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T. Qua xác minh, đại diện chính quyền điạ phương cho biết: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T đăng ký kết hôn ngày 16/01/2013 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị T sinh sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã. Anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T đã ly thân từ tháng 10/2018 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T có 01 con chung là cháu Đinh Thị Trà M, sinh ngày 08/9/2017. Hiện nay cháu M đang ở cùng anh Đ, do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm, sóc, giáo dục kể từ khi anh Đ và chị T ly thân (từ tháng 10/2018 đến nay).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do chính đáng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn anh Đinh Khắc Đ: Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị Lò Thị T. Về con chung: giao cháu Đinh Thị Trà M cho anh Đinh Khắc Đ tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung: anh Đinh Khắc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Nguyên đơn anh Đinh Khắc Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn chị Lò Thị T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn 7 xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Anh Đinh Khắc Đ có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Lò Thị T theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là chị Lò Thị T. Đồng thời đã tiến hành hòa giải để các đương sự có thể đoàn tụ với nhau nhưng bị đơn là chị Lò Thị T vắng mặt tại phiên hòa giải lần thứ nhất, anh Đinh Khắc Đ có đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt. Việc Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt chị Lò Thị Thu, anh Đinh Khắc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh ngày 16/01/2013. Hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T phát sinh do bất đồng quan điểm sống. Vợ, chồng sống mỗi người một nơi và ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Việc chị T vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án cho thấy chị T cũng không có ý thức xây dựng gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị T là phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của anh, chị; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T có 01 con chung là Đinh Thị Trà M, sinh ngày 08/9/2017. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ đề nghị Tòa án giao cháu cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 6 năm 2023 đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị Thu, nhận thấy thực tế cháu Đinh Thị Trà M đang ở với anh Đ, do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi anh Đ và chị T ly thân (từ tháng 10/2018) đến nay. Xét điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục và nguyện vọng của anh Đinh Khắc Đ về việc nuôi con, đồng thời để đảm bảo không xáo trộn cuộc sống cũng như tâm lý của trẻ em, cần giao cháu Đinh Thị Trà M cho anh Đinh Khắc Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Khắc Đ về vấn đề con chung, giao cháu Đinh Thị Trà M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 06 năm 2023 đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lò Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: anh Đinh Khắc Đ và chị Lò Thị T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn anh Đinh Khắc Đ phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Anh Đinh Khắc Đ được ly hôn với chị Lò Thị T.

2. Về con chung: giao cháu Đinh Thị Trà M, sinh ngày 08/9/2017 cho anh Đinh Khắc Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 6/2023 đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lò Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

3. Về án phí: anh Đinh Khắc Đ có nghĩa vụ nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0013630 ngày 17 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Anh Đinh Khắc Đ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Cỡ chữ