vanban.org

Bản án 14/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Mộng L yêu cầu ly hôn với Lê Văn Tường An"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 02 - 2023
Về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Sang

2. Bà Thi Thị Thanh Trúc

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc:“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mộng L, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ô, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Lê Văn Trường A, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp ĐT A, xã HM, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L trình bày: Vào năm 2010, tôi với Lê Văn Trường A có tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh, huyện Châu Thành. Quá trình sống chung có 01 người con chung tên Lê Trường K, sinh ngày 14/3/2010. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Sau khi kết hôn 02 vợ chồng sống chung hạnh phúc. Thời gian đầu sinh sống rất hạnh phúc, vợ chồng luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do vợ chồng bà làm nghề chở bạch đàn trên ghe nên đến khoảng 2016, bà có về nhà để nuôi mẹ bệnh hơn một năm. Khi bà trở lại ghe thì ông An đã có người phụ nữ khác, từ đó đẫn đến mâu thuẩn vợ chồng, thường xuyên cự cãi, ông An tự động bỏ đi mấy năm nay. Từ thời gian đó, ông bà đã ly thân được 07 năm nay, nay bà không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Tường An.

Về con chung: yêu cầu nuôi dưỡng 01 người con chung tên Lê Trường K, sinh ngày 14/3/2010, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Em Lê Trường K là con chung của Lê Thị Mộng L và Lê Văn Trường A trình bày: Khi cha mẹ ly hôn e có ý nguyện ở chung với mẹ.

Bị đơn ông Lê Văn Trường A đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như giấy triệu tập đến Toà án nhưng ông Lê Văn Trường A không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Toà án để trình bày ý kiến của mình.

- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mộng L. Cho bà Lê Thị Mộng L được ly hôn với ông Lê Văn Trường A, giao 01 người con chung tên Lê Trường K, sinh ngày 14/3/2010 cho bà Lê Thị Mộng L nuôi dưỡng, ông Lê Văn Trường A không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị Mộng L có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, bị đơn ông Lê Văn Trường A có nơi cư trú tại ấp ĐT A, xã HM, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Mộng L và ông Lê Văn Trường A có đơn xin giải quyết vắng mặt Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Linh và ông An theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét thấy, bà Lê Thị Mộng L và ông Lê Văn Trường A tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

[3] Về hôn nhân: Quá trình chung sống với nhau giữa bà Lê Thị Mộng L và ông Lê Văn Trường A phát sinh mâu thuẩn. Theo lời trình bày của bà Lê Thị Mộng L, sau khi kết hôn hai vợ chồng đi ghe làm ăn sinh sống và sinh sống hạnh phúc với nhau được một khoảng thời gian. Đến năm 2016, do mẹ bà Linh bệnh nên bà có về nhà nuôi mẹ được khoảng 01 năm, ông An tiếp tục ở lại ghe. Khi bà Linh quay trở lại ghe thì ông An đã có người phụ nữ khác. Từ đó ông bà phát sinh mâu thuẩn, ông An tự động bỏ đi và không quay trở lại sống chung với bà. Hai vợ chồng bắt đầu ly thân từ đó đến nay đã gần 06 năm.

Đối với ông Lê Văn Trường A, kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải, Tòa án triệu tập ông An tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử nhưng ông An vẫn vắng mặt. Điều này cho thấy ông An không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà Linh. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của bà Linh và ông An không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho bà Lê Thị Mộng L và ông Lê Văn Trường A ly hôn là có cơ sở.

[4] Về con chung: Lê Trường K, sinh ngày 14/3/2010. Do con chung hiện tại đang sống chung với bà Linh phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất, em Lê Trường K có nguyện vọng muốn sống chung với bà Lê Thị Mộng L nên Hội đồng xét xử giao người con chung cho bà Linh tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Mộng L không yêu cầu ông Lê Văn Trường A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Mộng L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

[7] Án phí: Bà Lê Thị Mộng L chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Lê Thị Mộng L. Cho bà Lê Thị Mộng L được ly hôn với ông Lê Văn Trường A.

Con chung: Giao con chung Lê Trường K, sinh ngày 14/3/2010 cho bà Lê Thị Mộng L nuôi dưỡng. Ông Lê Văn Trường A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Văn Trường A có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Mộng L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị Mộng L chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà Linh đã nộp theo biên lai số 0014600 ngày 21/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, bà Lê Thị Mộng L không phải nộp thêm. Ông Lê Văn Trường A không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ