- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Cụ Đặng Thị N, sinh năm 1941- Bị đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1976 Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện K, Thành phố Hà Nội"
- Tòa quyết gì? Áp dụng cỏc D 26, 147, 227,271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dõn sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và gia đỡnh
| Toà án nhân dân Huyện K Thành phố Hà Nội Bản án số:14/2023/DS- ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 14/02/2023 |
V/v Tranh chấp chia tài sản
chung và chia thừa kế
Nhân danh
Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Toà án nhân dân huyện K
Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tuấn - Thẩm phán. Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh 2.Bà Nguyễn Thị Nga Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Cán bộ Toà án nhân dân huyện K. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K: Bà Trần Thanh Hiếu- Kiểm sát viên
Ngày 14/02/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử án dõn sự thụ lý số 90/2022/TLST- DSST ngày 18 thỏng 10 năm 2022 về việc:“Tranh chấp chia tài sản chung và chia thừa kế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2022/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2022 và cỏc Quyết định hoón phiờn tũa ngày 16/01/2023; 08/02/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Cụ Đặng Thị N, sinh năm 1941
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện K, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Quốc T, sinh năm 2001
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện K, Thành phố Hà Nội
Bị đơn: Bà Đỗ Thị D, sinh năm 1976
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện K, Thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- ễng Trần Văn F, sinh năm 1961
- ễng Trần Đức V ,sinh năm 1967
- Bà Trần Thị Thanh L, sinh năm1976
- Anh Trần Quốc T, sinh năm 2001
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện K, Thành phố Hà Nội
(Các đương sự gồm anh T, bà D, ông F, ông V, bà L cú mặt tại phiờn
tũa.)
Nội dung vụ án:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quỏ trỡnh giải quyết vụ ỏn và tại phiờn tũa cụ Đặng Thị N là nguyên đơn do anh Trần Quốc T đại diện theo ủy quyền trình bầy:
Đến nay bà N là nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của mỡnh.
Về quan hệ huyết thống gia đỡnh:
Bà nội của anh là Đặng Thị N, ông nội là Trần Văn L sinh năm 1934, chết năm 2008. ễng bà nội tụi cú 4 người con đẻ là:
- Trần Văn F, sinh năm 1961
- Trần Đức V ,sinh năm 1967
- Trần Thị Thanh L, sinh năm1976
- Trần Đức H, sinh năm 1978 là bố đẻ của anh đó chết 2020. Anh Hội cú vợ là Đỗ Thị D, sinh năm 1976. Bố anh và bà D cú 01 con đẻ là Trần Quốc T (tụi), sinh năm 2001.
Ông bà nội cú nhận 01 người con nuụi là Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thụn D, X, K, Hà Nội. Do ụng bà nội anh và bố mẹ đẻ của bà T cú quan hệ thõn thiết nờn nhận bà T là con nuụi. Việc nhận bà T làm con nuụi chỉ núi miệng, khụng làm thủ tục đăng ký nhận con nuụi theo quy định phỏp luật và ụng bà nội anh cũng không nuôi dưỡng bà T ngày nào.
Về tài sản chung của ụng bà nội và di sản thừa kế của ụng L:
Năm 1959 ông bà nội anh được Hợp tác xã nông nghiệp L cấp cho là 355m2 đất tại T,Q,K,Hà Nội. Khi cấp là ban chủ Nhiệm hợp tác xã cấp không có giấy tờ gì.
Quá trình sử dụng đất năm 2003 cụ N cụ L đó tỏch cho con trai thứ 2 là Trần Đức V diện tích đất 120m2, ụng V đó được cấp GCNQSD đất. Cụ N cụ L bán đi diện tích đất 120m2 để lấy tiền làm nhà, cũn lại chia tiền cho con trai trưởng Trần Văn F khoảng 30 triệu, con trai thứ 2 Trần Đức V khoảng 70 triệu, chia cho con gái Trần Thị Thanh L khoảng 70 triệu. Diện tích đất cũn lại là 115 m2 đất ở, thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N. Mặc dù trong GCN QSDĐ ghi tên hộ gia đỡnh nhưng anh khẳng định đây là tài sản chung của cụ N và cụ L vỡ thửa đất cấp cho vợ chồng cụ N và cụ L năm 1959 khi cụ N và cụ L chưa có con chung. Đến năm 2003 mới được cấp sổ đỏ thỡ ghi là hộ gia đỡnh nhưng thực chất về nguồn gốc thửa đất là của cụ N và cụ L chứ không phải cấp cho hộ gia đỡnh.
Tài sản gắn liền với thửa đất hiện nay có ngôi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng cụ N và cụ L và di sản thừa kế của cụ L khụng cũn gỡ khỏc.
Quỏ trỡnh sử dụng đất đến nay thửa đất không có biến động gỡ, khụng tặng cho, chuyển nhượng cho ai, không có tranh chấp với các hộ liền kề.
Từ khi cụ L và bố anh chết đến nay nhà đất do cụ N, mẹ đẻ anh là Đỗ Thị D và anh là Trần Quốc T quản lý, sử dụng.
Về cụng sức chăm súc cụ L khi tuổi già, sức yếu: Khi cụ L cũn sống, cụ L ở chung với cụ N và bố mẹ anh nờn cú cụng sức chăm súc cụ L khi tuổi già, sức yếu. Khi cụ L chết, cụ N và bố mẹ anh đều cú cụng lo ma chay cho cụ L.
Về cụng sức bảo trỡ, tụn tạo di sản: Khi cụ L chết, chỉ cú cụ N, vợ chồng con dõu là Đỗ Thị D và chỏu Trần Quốc T ở trờn đất, quản lý sử dụng đất. Thuế đất hàng năm cú năm do mẹ anh đúng.
Về Phương án hũa giải: Trước khi chết cụ L khụng để lại di chỳc, nay xảy ra tranh chấp về thừa kế, quan điểm của cụ N về phương án hũa giải là để giữ tỡnh cảm gia đỡnh cụ N sẽ thanh toỏn một khoản tiền cho ụng F và ụng V mỗi người 200.000.000 đồng, cũn toàn bộ nhà đất bà nội anh để lại cho cháu T(anh). Nếu ông F và ông V không đồng ý thỡ cụ N đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Trước khi chết cụ L khụng để lại di chỳc, đến nay trong gia đỡnh khụng hũa giải được cụ N yờu cầu Tũa ỏn chia tài sản chung của cụ N và cụ L đồng thời chia thừa kế di sản của cụ L theo quy định phỏp luật. Do con trai của cụ L là ụng Hội (bố đẻ của anh) đó chết nờn tài sản của ụng Hội được hưởng thừa kế của cụ L đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo quy định phỏp luật. Cụ N xin hưởng thừa kế bằng hiện vật. Cụ thể cụ N đề nghị Tũa ỏn giải quyết cỏc yờu cầu sau:
1. Chia tài sản chung của cụ N và cụ Trần Văn L là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch đất 115 m2, địa chỉ thửa đấ t: TDP L, Trõu Quỳ, K, Hà Nội.
2. Chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn L theo quy định phỏp luật. Do con trai của cụ L là ụng Trần Đức Hội đó chết nờn tài sản của ụng Hội được hưởng thừa kế của cụ L đề nghị Tũa ỏn tiếp tục chia thừa kế theo quy định phỏp luật.
Đề nghị Tũa ỏn xem xột giải quyết cho cụ N về cụng sức chăm súc cụ L khi ốm đau, ma chay khi cụ L chết, cụng sức của cụ N quản lý duy trỡ tài sản từ trước đến nay.
Nguyện vọng của cụ N là để lại cho chỏu Trần Quốc T(tụi) toàn bộ phần di sản thừa kế cụ N được hưởng của cụ Trần Văn L, ụng Trần Đức Hội và toàn bộ phần tài sản riờng của cụ N trong khối tài sản chung với cụ L là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch đất 115 m2, địa chỉ thửa đất: TDP L, Trõu Quỳ, K, Hà Nội và ngụi nhà 02 tầng trờn đất. Do cụ N có nguyện vọng nhường lại toàn bộ tài sản nhà đất cho cháu Trần Quốc T nên cụ không yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với tài sản trên đất là ngụi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003.
Ngoài ra cụ N khụng cú yờu cầu gỡ khỏc.
Bị đơn trong vụ án bà Đỗ Thị D trỡnh bầy:
Về quan hệ huyết thống gia đỡnh :
Bà xỏc nhận lời khai của cụ N do anh T là đại diện theo ủy quyền đó trỡnh bầy ở trờn về quan hệ huyết thống gia đỡnh là đúng bà xin bổ sung thêm như sau:
Bà là vợ ụng Trần Đức Hội, sinh năm 1978, đó chết ngày 13/02/2020, bà và ông Hội kết hôn với nhau năm 2000 và sinh được 01 người con duy nhất là Trần Quốc T sinh ngày 14/11/2001. ễng Hội với bà là vợ chồng duy nhất của nhau và khụng nhận ai làm con nuụi.
Về tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L và di sản thừa kế của cụ L:
Bà nhất trớ với trỡnh bày ở trờn của cụ N là tài sản chung của vợ chồng cụ N và cụ L cú diện tớch 115 m2 đất ở, thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N. Mặc dù trong GCN QSDĐ ghi tên hộ gia đỡnh nhưng bà xỏc nhận đây là tài sản chung của vợ chồng cụ N và cụ L vỡ thửa đất cấp cho vợ chồng cụ N và cụ L từ năm 1959 khi cụ N và cụ L chưa có con chung. Đến năm 2003 mới được cấp sổ đỏ thỡ ghi là hộ gia đỡnh nhưng thực chất về nguồn gốc thửa đất là của vợ chồng cụ N và cụ L chứ không phải cấp cho hộ gia đỡnh. Tài sản gắn liền với thửa đất hiện nay có ngôi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L và di sản thừa kế của cụ L khụng cũn gỡ khỏc.
Quỏ trỡnh sử dụng đất: Đến nay thửa đất không có biến động gỡ, khụng tặng cho, chuyển nhượng cho ai, không có tranh chấp với các hộ liền kề.
Từ khi cụ L chết đến nay nhà đất do cụ N, tụi - Đỗ Thị D, cháu Trần Quốc T quản lý, sử dụng.
Về cụng sức chăm súc cụ L khi tuổi già, sức yếu: Khi cụ L cũn sống, cụ L ở chung với cụ N và vợ chồng bà nờn bà và cụ N cú cụng sức chăm súc cụ L khi tuổi già, sức yếu.
Khi cụ L chết thỡ cụ N và cỏc con đều cú cụng lo ma chay cho cụ L.
Về cụng sức bảo trỡ, tụn tạo di sản: Khi cụ L chết, chỉ cú cụ N, vợ chồng bà
- Đỗ Thị D và chỏu Trần Quốc T ở trờn đất, quản lý sử dụng đất. Thuế đất hàng năm cú năm do bà đúng.
Về Phương án hũa giải: Trước khi chết cụ L khụng để lại di chỳc, nay xảy ra tranh chấp về thừa kế, quan điểm của bà về phương án hũa giải là để giữ tỡnh cảm gia đỡnh bà sẽ hỗ trợ cụ N thanh toỏn một số tiền cho ụng F và ụng V mỗi người 200.000.000 đồng, cũn toàn bộ nhà đất cụ N để lại cho cháu T. Nếu ông F và ông V không đồng ý thỡ đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Do cụ L khụng để lại di chỳc nờn bà đồng ý như yêu cầu của cụ N và đề nghị Tũa ỏn chia tài sản chung của vợ chồng cụ N, L đồng thời chia thừa kế di sản của cụ L là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch đất 115 m2, địa chỉ thửa đất: TDP L, Trõu Quỳ, K, Hà Nội theo quy định phỏp luật. Do chồng bà là ụng Hội đó chết nờn tài sản của ụng Hội được hưởng thừa kế của cụ L đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo quy định phỏp luật. Bà xin hưởng thừa kế bằng hiện vật và bà nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế mà bà được hưởng của ụng Hội cho cụ N để cụ N nhường lại cho cháu T.
Đề nghị Tũa ỏn xem xột giải quyết cho bà về cụng sức chăm súc cụ L khi ốm đau, ma chay khi cụ L chết, cụng sức của bà quản lý duy trỡ tài sản từ trước đến nay. Bà hoàn toàn nhất trí với nguyện vọng của cụ N nhường lại toàn bộ tài sản nhà đất cho cháu Trần Quốc T nên cụ N không yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với tài sản trên đất là ngụi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003 đề nghị Tũa ỏn ghi nhận.
Ngoài ra bà D khụng cú ý kiến, yờu cầu gỡ khỏc. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trỡnh bầy:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Trần Văn F và ông Trần Đức V thống nhất trỡnh bầy:
Ông Trần Văn F trỡnh bầy:
Về quan hệ huyết thống gia đỡnh và di sản thừa kế ông và ông V hoàn toàn nhất trớ với lời khai của cụ N đó trỡnh bầy và khụng bổ sung gỡ thờm. Nay trước yêu cầu khởi kiện của cụ N đối với bà D ông và ông V có quan điểm như sau:
Về tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L và di sản thừa kế của cụ L:
ễng nhất trớ với trỡnh bày ở trờn của cụ N là tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L cú diện tớch 115 m2 đất ở, thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N. Mặc dù trong GCN QSDĐ ghi tên hộ gia đỡnh nhưng ụng xỏc nhận đây là tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L vỡ thửa đất cấp cho vợ chồng cụ N, cụ L từ năm 1959 khi cụ N, cụ L chưa có con chung. Đến năm 2003 được cấp sổ đỏ thỡ ghi là hộ gia đỡnh nhưng thực chất về nguồn gốc thửa đất là của vợ chồng cụ N, cụ L chứ không phải cấp cho hộ gia đỡnh. Tài sản gắn liền với thửa đất hiện nay có ngụi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N, cụ L xây dựng từ năm 2003.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L và di sản thừa kế của cụ L khụng cũn gỡ khỏc.
Đến nay thửa đất không có biến động gỡ, khụng tặng cho, chuyển nhượng cho ai, không cú tranh chấp với cỏc hộ liền kề.
Từ khi cụ L chết đến nay nhà đất do cụ N, bà Đỗ Thị D, cháu Trần Quốc T quản lý, sử dụng. Khi cụ L cũn sống, cụ L ở chung với cụ N và vợ chồng bà D. Khi cụ L chết, cụ N và cỏc con đều cú cụng lo ma chay cho cụ L.
Về cụng sức bảo trỡ, tụn tạo di sản: Khi cụ L chết, chỉ cú cụ N, vợ chồng bà Đỗ Thị D và chỏu Trần Quốc T ở trờn đất, quản lý sử dụng đất. Thuế đất hàng năm cú năm do bà D đúng. Khi chết cụ L khụng để lại di chỳc, nay xảy ra tranh chấp về thừa kế, ụng không đồng ý với phương án hũa giải của cụ N và bà D.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Do cụ L khụng để lại di chỳc nờn ụng đồng ý Tũa ỏn chia tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L đồng thời chia thừa kế di sản của cụ L theo quy định phỏp luật. Do con trai của cụ L là ụng Hội đó chết nờn tài sản của ụng Hội được hưởng thừa kế của cụ L đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo quy định phỏp luật. Ông và ông V xin hưởng thừa kế bằng hiện vật. Phần di sản của hai anh em được hưởng đề nghị gộp chung lại với nhau để ông và ông V làm nhà thờ.
Ông Trần Đức V trỡnh bầy: ễng hoàn toàn nhất trớ với ý kiến của ụng F đó trỡnh bầy ở trờn và khụng cú ý kiến gỡ bổ sung.
Ngoài ra ông F, ông V khụng cú ý kiến, yờu cầu gỡ khỏc.
Người cú quyền lợi, nghĩa vụ liờn quan – Bà Trần Thị Thanh L trỡnh bầy:
Về quan hệ huyết thống gia đỡnh, về tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L và di sản thừa kế của cụ L bà nhất trớ với trỡnh bày ở trờn của cụ N và bà D.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Do ụng L khụng để lại di chỳc nờn bà đồng ý Tũa ỏn chia tài sản chung của vợ chồng cụ N, cụ L đồng thời chia thừa kế di sản của cụ L là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch đất 115 m2, địa chỉ thửa đất: TDP L, Trõu Quỳ, K, Hà Nội theo quy định phỏp luật. Do con trai của cụ L là ụng Hội đó chết nờn tài sản của ụng Hội được hưởng thừa kế của cụ L đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo quy định phỏp luật. Phần di sản thừa kế bà được hưởng bà có nguyện vọng nhường lại cho cụ N toàn quyền định đoạt.
Ngoài ra bà L khụng cú ý kiến, yờu cầu gỡ khỏc. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đó thực hiện đúng và đầy đủ quy định tại D 48; D 203 BLTTDSBLTTDS.
- Hội đồng xét xử đó thực hiện theo đúng qui định tại D 63 của BLTTDS.
- Thư ký đó thực hiện đầy đủ Nệm vụ và quyền hạn của mỡnh theo qui định tại D 51 BLTTDS.
- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mỡnh theo qui định tại D 70 và D 71, 72, 73 BLTTDS.
Tuy Nờn, Thẩm phỏn cần phải xỏc minh Ủy ban nhõn dõn thị trấn Trõu Quỳ, UBND huyện K về chính sách cấp đất năm 1972 đối với thửa đất trên cho gia đỡnh bà N là thế nào? cụ thể đất được cấp cho những ai trong hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N? Nếu UBND khụng cũn lưu giữ tài liệu thể hiện thỡ phải xỏc minh Thời điểm được cấp đất cũn cú những gia đỡnh nào được cấp cùng hay không? Nếu cũn sống thỡ lấy lời khai những người này để làm rừ chớnh sỏch cấp đất thời điểm được cấp. Từ đó mới có căn cứ phân chia tài sản là quyền sở hữu diện tích 115 m2 đất ở, thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N.
Căn cứ, điểm c khoản 1 D 259 BLTTDS đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tũa để thu thập, xác minh tài liệu trên để có căn cứ giải quyết vụ án.
Nhận Định của tòa án:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng
Theo quy định tại khoản 1 D 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thỡ thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản đối với bất động sản là 30 năm và theo hướng dẫn tại mục I về dân sự Giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ ngày 03/1/2018 của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao thỡ đến khi cụ N khởi kiện đến Tũa ỏn vào ngày 13/10/2022 về thời hiệu khởi kiện về thừa kế và chia tài sản chung đối với phần tài sản của cụ L và ụng Hội vẫn cũn thời hiệu. Cụ L chết năm 2008, thời điểm mở thừa kế di sản của cụ L để lại là năm 2008, ụng Hội chết năm 2020 thời điểm mở thừa kế di sản của ụng Hội để lại là năm 2020. Ngày 08-9-2022, cụ N làm đơn khởi kiện gửi đến Tũa ỏn ngày 13/10/2022 yờu cầu chia tài sản chung và di sản thừa kế theo pháp luật của đối với tài sản của cụ Trần Văn L và ông Trần Đức Hội để lại. Như vậy cụ N nộp đơn khởi kiện là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Tại phiờn tũa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiờn tũa theo điểm c khoản 1 D 259 Bộ luật tố tụng dõn sự để thu thập, xỏc minh thờm tài liệu chứng cứ giải quyết vụ ỏn. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đó được thu thập đầy đủ, nên không cần phải tạm ngừng phiên tũa để thu thập, xác minh thờm tài liệu chứng cứ, do đó đề nghị của Viện kiểm sát không được chấp nhận, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ huyết thống gia đỡnh:
Các đương sự trong vụ ỏn cùng thống nhất như sau: Cụ Trần Văn L sinh năm 1934, chết năm 2008 và cụ Đặng Thị N lúc sinh thời cụ L và cụ N sinh được 4 người con đẻ là:
- Trần Văn F, sinh năm 1961
- Trần Đức V ,sinh năm 1967
- Trần Thị Thanh L, sinh năm1976
- Trần Đức Hội, sinh năm 1978 đó chết 2020. ễng Hội cú vợ là bà Đỗ Thị D, sinh năm 1976. ễng Hội cú 01 con đẻ là anh Trần Quốc T, sinh năm 2001. Ông Hội và bà D là vợ chồng duy nhất của nhau và khụng nhận ai làm con nuụi.
Ngoài ra cụ L, cụ N khụng cú con nuụi hoặc con riờng nào khỏc.
[3] Về hàng thừa kế:
Về hàng thừa kế của cụ Trần Văn L gồm: Cụ Đặng Thị N và 04 con là : Trần Văn F, sinh năm 1961; Trần Đức V ,sinh năm 1967; Trần Thị Thanh L, sinh năm1976; Trần Đức Hội, sinh năm 1978 đó chết năm 2020. Quỏ trỡnh giải quyết vụ ỏn cụ N và cỏc đương sự có lời khai về việc cú nhận 01 người con nuụi là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thụn D, X, K, Hà Nội. Tuy Nờn, việc nhận bà T làm con nuụi chỉ núi miệng trên cơ sở tỡnh cảm, bản thõn bà T cũng xác nhận chỉ có quan hệ tỡnh cảm với cụ N cụ L chứ khụng phải là con nuụi hợp phỏp, vỡ khụng làm thủ tục đăng ký nuụi con nuụi theo quy định phỏp luật và cũng khụng nuụi dưỡng bà T ngày nào. Do vậy Hội đồng xét xử thấy rằng bà Nguyễn Thị T không có căn cứ để xác nhận là con nuụi thuộc diện được hưởng thừa kế của cụ L theo quy định của phỏp luật. Ngoài ra cụ N và cụ L khụng cú con nuụi con riờng nào khỏc.
Về hàng thừa kế của ụng Trần Đức Hội, đó chết ngày 13/02/2020 gồm: Mẹ đẻ là cụ Đặng Thị N, vợ là bà Đỗ Thị D, sinh năm 1976 và 01 con đẻ là anh Trần Quốc T, sinh năm 2001. Ngoài ra ông Hội và bà D khụng cú con nuụi hoặc con riờng nào khỏc.
[4] Về tài sản chung và di sản thừa kế:
Theo nguyên đơn và các đương sự trong vụ án trỡnh bầy, qua xỏc minh thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện tài sản cú tranh chấp là tài sản chung vợ chồng của cụ L cụ N và di sản mà cụ L để lại trong khối tài sản chung với cụ Đặng Thị N là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch 235m2, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N. Quỏ trỡnh quản lý sử dụng cụ N đó chuyển nhượng cho ông Dương Hữu Toàn 120m2 vào ngày 10/12/2003 nên đến nay diện tích đất cũn lại chỉ cũn 115m2 (Đo thực tế 115m2). Khi chết cụ L, ụng Hội không để lại di chúc, hiện toàn bộ diện tích đất trên do cụ Đặng Thị N và bà D, anh T đang quản lý sử dụng, trong đó có di sản thừa kế của cụ L và ụng Hội để chia theo pháp luật. Các đương sự không yêu cầu chia di sản thừa kế nào khỏc của cụ L và ụng Hội do đó Hội đồng xét xử không xét.
[5].Về yêu cầu khởi kiện của các đương sự
Cụ Đặng Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng cụ và thừa kế theo phỏp luật di sản mà cụ Trần Văn L để lại là quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung với cụ Đặng Thị N. Cụ N có nguyện vọng nhường lại toàn bộ tài sản nhà đất cho cháu Trần Quốc T nên cụ không yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với tài sản trên đất là ngụi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003.
5.1.Xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc chia tài sản chung Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xột thấy quỏ trỡnh sử dụng đất cụ Đặng Thị N đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/10/2003 vào sổ cấp GCNQSD đất số 0286/QSDĐ/1612 do UBND huyện K cấp cho hộ gia đỡnh ụng (bà): Đặng Thị N được quyền sử dụng 235m2 đất ở thuộc thửa số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003. Việc ghi tên chủ sử dụng đất mang tên hộ gia đỡnh như vậy là không chính xác bởi lẽ nguồn gốc thửa đất trên là do cụ N và L được Hợp tỏc xó nụng nghiệp L cấp năm 1972 khụng cú giấy tờ gỡ thể hiện cấp cho hộ gia đỡnh cụ N và cụ L đó kờ khai đăng ký trong sổ mục kê năm 1986. Quỏ trỡnh quản lý sử dụng đất cụ N đó tỏch cho con trai là ụng Trần Quốc V 102m2 đất, diện tích đất cũn lại bà N sử dụng đến khi được cấp sổ đỏ là 235m2. Sau khi được cấp sổ đỏ cụ N chuyển nhượng cho ông Toàn 120m2 nên đến nay diện tích đất cũn lại là 115m2. Trong quỏ trỡnh thực hiện việc kờ khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại hồ sơ đề nghị xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ quan có thẩm quyền xác nhận chủ sử dụng đất là cụ Đặng Thị N, cỏc con chỏu của cỏc cụ khụng cú cụng sức gỡ trong việc tạo lập nờn thửa đất trên. Do vậy, xác định thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch 115m2(Đo thực tế 115m2), địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N là tài sản chung của cụ L cụ N. Cụ L và cụ N khụng có thỏa thuận nào khác nên theo D 15 luật Hôn nhân và gia đỡnh năm 1959 và luật hôn nhân gia đỡnh 1986, đây là tài sản chung vợ chồng về nguyên tắc mỗi người được hưởng 1/2 giá trị tài sản tương đương 115m2: 2 = 57,5m2. Vỡ vậy, cụ Đặng Thị N yờu cầu chia tài sản chung vợ chồng với cụ L là cú cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ N được chia bằng hiện vật và được hưởng diện tích đất là 57,5m2 đất ở thuộc thửa số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội.
5.2. Xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc chia thừa kế theo pháp luật Hội đồng xét xử nhận thấy:
5.2.1.Xác định kỷ phần thừa kế và Phõn chia di sản thừa kế:
Như đó nhận định ở trên, cụ L, cụ N mỗi người được hưởng 1/2 giỏ trị tài sản trong khối tài sản chung tương đương với 57,5m2 đất ở. Tuy Nờn, Hội đồng xét xử thấy trước khi phân chia di sản thừa kế của cụ L để lại cần phải xác định trớch trả công sức đóng góp vào việc tôn tạo, quản lý, duy trỡ và bảo quản di sản. Hội đồng xột xử thấy rằng, theo các tài liệu chứng cứ thể hiện: Thửa đất đứng tên của cụ N trong đó có phần di sản thừa kế của cụ L để lại hiện nay do cụ N đang quản lý sử dụng trong Nều năm. Xột cụng sức tôn tạo, quản lý thửa đất của cụ N là tương đối lớn nên cần trích một phần diện tích đất trong tổng diện tích thửa đất để trớch trả cho cụ N là người trực tiếp quản lý di sản, trước khi phân chia di sản thừa kế của cụ L là có căn cứ. Cụ thể như sau: 57,5m2 đất chia làm năm phần bằng nhau, mỗi phần là 57,5: 5 = 11,5m2 để trả cho cụ N là phự hợp. Như vậy, di sản của cụ L cũn lại là 57,5m2 – 11,5m2 = 46m2 đất trị giỏ: 46m2 x 22.500.000đ/m2 = 1.035.000.000 đồng. Tổng giỏ trị di sản thừa kế của cụ L là:1.035.000.000 đồng để chia thừa kế theo phỏp luật cụ thể:
Di sản của cụ L chia cho 05 đầu thừa kế gồm: Cụ N, ụng F, ông V, bà L, ông Hội mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng nhau tương đương 46m2 đất ở : 5 = 9,2m2. Như vậy mỗi kỷ phần thừa kế của cụ L được hưởng là: 9,2m2 đất ở.
Năm 2020 ông Hội chết nên di sản của ụng Hội chia cho 03 đầu thừa kế gồm: cụ N, bà D, anh T mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng nhau tương đương 9,2m2: 3 = 3,07m2.
Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đều có đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo phỏp luật và xin được hưởng bằng hiện vật và nhường lại toàn bộ cho cụ N là nguyên đơn được hưởng. Do bà D, bà L, anh T đều đồng ý nhường kỷ phần thừa kế được hưởng theo phỏp luật cho cụ N để cụ N cho anh T, nờn cần ghi nhận sự tự nguyện này.
Trong vụ án này ông F và ông V là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có yêu cầu được hưởng thừa kế bằng hiện vật nhưng Hội đồng xét xử xét thấy kỷ phần thừa kế mà ụng F, ông V được hưởng là tương đối nhỏ, nếu chia bằng hiện vật thỡ cú diện tớch nhỏ khụng đủ các D kiện để tách thửa, hiện nay cả ông F, ông V đều đó cú chỗ ở ổn định do đó không thể chia bằng hiện vật được nên phải chia bằng giỏ trị và buộc cụ N do anh T đại diện phải có trách Nệm phải thanh toán cho ông F và ông V mỗi người là: 9,2m2 x 22.500.000đ/m2 = 207.000.000 đồng tương đương với kỷ phần thừa kế mà mỗi ông được hưởng của cụ L.
5.2.2.Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Đặng Thị N đồng ý cho chỏu Trần Quốc T sở hữu sử dụng toàn bộ phần di sản thừa kế cụ N được hưởng của cụ Trần Văn L, ụng Trần Đức Hội và toàn bộ phần tài sản riờng của cụ N trong khối tài sản chung với cụ L là: Diện tớch đất 115 m2 thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ dõn phố L, thị trấn Trõu Quỳ, huyện K, thành phố Hà Nội và ngụi nhà 02 tầng và cỏc tài sản nằm trờn đất, được giới hạn bởi các điểm:1,2,3,4,5,6,1.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản ỏn)
5.2.3.Sau khi cụ N do anh Trần Quốc T đại diện, thanh toán cho ông F và ông V mỗi người số tiền là: 207.000.000 đồng thỡ anh Trần Quốc T có quyền liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về nhà đất để làm thủ đăng ký lại quyền sử dụng đất mang tên riêng anh Trần Quốc T là cháu nội của cụ đối với diện tớch đất 115 m2 thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ dõn phố L, thị trấn Trõu Quỳ, K, Hà Nội và tài sản ngụi nhà 02 tầng trờn đất.
[6].Về ỏn phớ:
Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 D 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ỏn phớ, lệ phớ Tũa ỏn.
Cụ N, ụng F đó trờn 60 tuổi nờn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 10.350.000đồng.
[7]. Về quyền khỏng cỏo:
Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng cỏc D 26, 147, 227,271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng các D 213, 623, 650, 651, 688 của Bộ luật Dõn sự 2015;
- Áp dụng D 15 Luật Hôn nhân và gia đỡnh năm 1959
- Áp dụng điểm đ khoản 1 và khoản 2 D 12 nghị quyết 326/NQ ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ỏn phớ, lệ phớ Tũa ỏn.
- Áp dụng hướng dẫn tại mục I về dân sự Giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ ngày 05/01/2018 của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao.
Xử:
1. Chấp nhận yờu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị N đối với bà Đỗ Thị D về việc yờu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản của cụ Trần Văn L, ông Trần Đức Hội để lại theo pháp luật.
2. Về hàng thừa kế:
2.1. Về hàng thừa kế của cụ Trần Văn L, đó chết ngày 15/11/2008 gồm: Cụ Đặng Thị N, sinh năm 1941 và 04 con là: ụng Trần Văn F, sinh năm 1961; ụng Trần Đức V, sinh năm 1967; bà Trần Thị Thanh L, sinh năm1976; ụng Trần Đức Hội, sinh năm 1978 đó chết năm 2020. Ngoài ra cụ N và cụ L khụng cú con nuụi con riờng nào khỏc.
2.2. Về hàng thừa kế của ông Trần Đức Hội, đó chết ngày 13/02/2020 gồm: Mẹ đẻ là cụ Đặng Thị N, vợ là bà Đỗ Thị D, sinh năm 1976 và 01 con đẻ là anh Trần Quốc T, sinh năm 2001. Ngoài ra ông Hội và bà D khụng cú con nuụi hoặc con riờng nào khỏc.
3. Về di sản thừa kế của cụ L gồm cú:
Do cụ N có nguyện vọng nhường lại toàn bộ tài sản nhà đất cho cháu Trần Quốc T nên cụ không yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế đối với tài sản trên đất là ngụi nhà 2 tầng do vợ chồng cụ N và cụ L xây dựng từ năm 2003.
Do vậy di sản cụ Trần Văn L để lại trong khối tài sản chung với cụ Đặng Thị N là thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, diện tớch 235m2, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội, đó được cấp GCN QSDĐ số X 968116 do Ủy ban nhõn dõn huyện K cấp ngày 15/10/2003 mang tên hộ gia đỡnh bà Đặng Thị N. Quỏ trỡnh quản lý sử dụng cụ N đó chuyển nhượng cho ông Dương Hữu Toàn 120m2 vào ngày 10/12/2003 nên đến nay diện tích đất cũn lại chỉ cũn 115m2 (Đo thực tế 115m2) đây là tài sản để chia tài sản chung và chia thừa kế.
4. Chia bằng hiện vật cụ thể như sau:
4.1. Chia tài sản chung bằng hiện vật:
Cụ Đặng Thị N được chia bằng hiện vật và được hưởng diện tích đất là 57,5m2 đất ở thuộc thửa số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ T, Q, K, Hà Nội.
4.2. Di sản của cụ L chia cho 05 đầu thừa kế gồm: Cụ N, ông F, ông V, bà L, ông Hội mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng nhau tương đương 46m2 đất ở : 5 = 9,2m2. Như vậy mỗi kỷ phần thừa kế của cụ L được hưởng là: 9,2m2 đất ở.
4.3. Năm 2020 ông Hội chết nên di sản của ụng Hội chia cho 03 đầu thừa kế gồm: cụ N, bà D, anh T mỗi người được hưởng 01 kỷ phần bằng nhau tương đương 9,2m2: 3 = 3,07m2.
4.4. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đều có đề nghị Tũa ỏn chia thừa kế theo pháp luật và xin được hưởng bằng hiện vật và nhường lại toàn bộ cho cụ N là nguyên đơn được hưởng. Bà D, bà L, anh T đều đồng ý nhường kỷ phần thừa kế được hưởng theo pháp luật cho cụ N để cụ N cho anh T, nên cần ghi nhận sự tự nguyện này. Do ông F và ông V là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có yêu cầu được hưởng thừa kế bằng hiện vật nhưng Hội đồng xét xử xét thấy kỷ phần thừa kế mà ụng F, ông V được hưởng là tương đối nhỏ, nếu chia bằng hiện vật thỡ cú diện tớch nhỏ khụng đủ các D kiện để tách thửa, hiện nay cả ông F, ông V đều đó cú chỗ ở ổn định do đó không thể chia bằng hiện vật được nên phải chia bằng giá trị và buộc cụ N do anh T đại diện phải có trách Nệm phải thanh toán cho ông F và ông V mỗi người là: 207.000.000 đồng tương đương với kỷ phần thừa kế mà mỗi ông được hưởng. Do vậy giao cho cụ N quản lý sử dụng toàn bộ diện tớch đất 115 m2 thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ dõn phố L, thị trấn Trõu Quỳ, K, Hà Nội và tài sản ngụi nhà 02 tầng trờn đất.
5. Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Đặng Thị N đồng ý cho chỏu Trần Quốc T sở hữu sử dụng toàn bộ phần di sản thừa kế cụ N được hưởng của cụ Trần Văn L, ụng Trần Đức Hội và toàn bộ phần tài sản riờng của cụ N trong khối tài sản chung với cụ L là: Diện tớch đất 115 m2 thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ dõn phố L, thị trấn Trõu Quỳ, huyện K, thành phố Hà Nội và ngụi nhà 02 tầng trờn đất.
6. Sau khi cụ N do anh Trần Quốc T đại diện, thanh toán cho ông F và ông V mỗi người số tiền là: 207.000.000 đồng thỡ anh Trần Quốc T có quyền liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về nhà đất để làm thủ đăng ký lại quyền sử dụng đất mang tên riêng anh Trần Quốc T đối với diện tớch đất 115 m2 thuộc thửa đất số 49(2), tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Tổ dõn phố L, thị trấn Trõu Quỳ, K, Hà Nội và tài sản ngụi nhà 02 tầng và cỏc tài sản nằm trờn đất, được giới hạn bởi các điểm:1,2,3,4,5,6,1.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản ỏn)
7. Về ỏn phớ dân sự sơ thẩm:
7.1. Cụ N, ụng F đó trờn 60 tuổi nờn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
7.2. Ông V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là: 10.350.000 đồng.
8. Quyền khỏng cỏo:
Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các T hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án cũn phải chịu khoản tiền lói của số tiền cũn phải thi hành ỏn theo mức lói suất quy định tại khoản 2 D 357 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trong T hợp bản án được thi hành theo quy định tại D 2 Luật Thi hành án dân sự thỡ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các D 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại D 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tũa ỏn nhõn dõn TP.Hà Nội; - VKSND huyện K; - Chi cục THA DS huyện K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phỏn- Chủ tọa phiờn tũa Nguyễn Viết Tuấn |