vanban.org

Bản án 14/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn C phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/12/2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 14/2022/HSST Tuyên án 22/04/2022
Phúc thẩm Bản án 43/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 08/06/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn C phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HSST
Ngày: 22/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tiềm

2. Bà Phạm Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân– Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN C, sinh ngày 02/3/1993, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: ấp 4, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (còn sống) và bà Nguyễn Mỹ L (còn sống); Anh, chị, em ruột: 01 người, sinh năm 2000; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: 01 lần, ngày 10/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự của bản án.

Tiền sự: 04 lần.

Lần 1: Ngày 29/01/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng.

Lần 2: Ngày 18/3/2021 Công an quận T, thành phố Cần Thơ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.

Lần 3: Ngày 26/10/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.

Lần 4: Ngày 27/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Bị can chưa chấp hành.

Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận Ô M, thành phố Cần Thơ, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 2002 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp 6, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Người làm chứng:

1/ Ông Lê Hồng T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi cư trú: khu vực T, phường L, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

2/ Ông Trương Tuấn A, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi cư trú: khu vực T, phường, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Lê Trung H, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 24/12/2021 đội C sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an quận Ô Môn kết hợp cùng Công an phường C tuần tra trên địa bàn thì phát hiện xe ôtô biển số 67A – 167.09 do Phạm Ngọc T điều khiển chở Nguyễn Văn C đang dừng lại bên đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành yêu cầu kiểm tra. Lúc này, Nguyễn Văn Cném một gói thuốc lá hiệu Jet qua cửa xe phía bên người điều khiển xuống đường nên lực lượng tiến hành khám xét khẩn cấp người và phương tiện. Qua khám xét phát hiện trong gói thuốc C ném có 02 gói nilon hàn kín bên trong có chứa ma túy nên tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C, Cơ quan C sát điều tra Công an quận Ô Môn thành phố Cần Thơ còn thu giữ nhiều dụng cụ dùng để mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ Kết luận số 30/KLGĐ – PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nilon gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 24,5033gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn Ckhai nhận: C là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy; để có tiền sử dụng ma túy C mua ma túy với khối lượng lớn sau đó chia nhỏ bán lại những người có nhu cầu sử dụng. Ngày 23/4/2021 C thuê Phạm Ngọc T điều khiển xe chở C đến thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích mua ma túy. Khi đi đến bệnh viện huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh thì C gặp người đàn ông tên Tư (không rõ tên họ và địa chỉ cụ thể) và mua ma túy với giá 3.000.000đồng (ba triệu đồng). Sau khi có ma túy, C chia làm hai gói và bỏ vào bao thuốc lá hiệu Jet rồi quay về Cần Thơ. Trên đường đi C thỏa thuận bán ma túy cho Lê Trung H và hẹn giao tại gần cầu T, thuộc khu vực 11, phường C, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Khi đến nơi hẹn giao ma túy thì C bị lực lượng Công an khám xét và thu giữ ma túy.

Ngoài ra, quá trình điều tra C khai nhận đã bán ma túy nhiều lần cho Lê Hồng T, Trương Tuấn A, Phạm Ngọc T, Lê Trung H và một số người không rõ tên họ và địa chỉ cụ thể. Qua làm việc các đối tượng này đều thừa nhận mua ma túy và nhận dạng được C, lời khai phù hợp với lời khai của C.

Đối với Phạm Ngọc T khi điều khiển xe ô tô chở C đi mua ma túy, Tiến không biết nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với đối tượng tên Tư là người bán ma túy cho C do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với xe 67A – 167.09 màu đen, nhãn hiệu Toyota, loại Innova thuộc sở hữu của bà Đỗ Thị Thủy N, bà Ngân ủy quyền cho ông Nguyễn Văn L. Xét thấy, việc cho thuê xe của ông L là hợp pháp và không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan C sát điều tra Công an quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ trả lại xe cho ông là phù hợp.

Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong số: 30/KL – PC09 ngày 31/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký của cán bộ niêm phong P và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 gói thuốc lá màu trắng hiệu Jet; 01 điện thoại Nokia màu đen, có số IMEI: 357174/06189529/0 cùng sim Mobifone seri 8401200292482355 đã qua sử dụng; 53 gói ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng: 01 cây kéo màu trắng bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen có một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu trắng phần đầu bị bể đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút sọc trắng đã qua sử dụng; 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 09 đoạn ống thủy tinh chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu nhọn đầu còn lại gắn đoạn ống hút màu xanh tím đã qua sử dụng; 01 chai gas màu đen có chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 bọc ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng; 01 chai gas màu xanh phía trên có gắn dụng cụ khò lửa đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế có nắp màu đỏ khoét hai lỗ tròn, gắn đoạn ống hút sọc trắng, lỗ còn lại gắn đoạn ống nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 01 gói đã được niêm phong có chữ ký của ông Quang Việt Trung, cán bộ niêm phong Lê Quang Trung, điều tra viên Đỗ Quốc Hoàng và đóng dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an quận Ô Môn, ký hiệu “TM2” bên trong chứa tờ tiền Việt Nam: 2.000đồng; Tiền mặt Việt Nam: 590.000đồng (năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại cáo trạng số 11/CT- VKSOM ngày 22/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố Nguyễn Văn C về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra và kết quả kiểm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa hôm nay thông qua việc xét hỏi bị cáo đã đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn C là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy và để có tiền sử dụng ma túy C đã mua ma túy với khối lượng lớn về chia nhỏ ra bán lại cho các người nghiện ma túy, cụ thể C bán ma túy cho Lê Hồng T, Trương Tuấn A, Phạm Ngọc T, Lê Trung H và một số người không rõ tên họ và địa chỉ, do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố theo cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn C phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Ctừ 10 năm đến 11 năm tù; phạt bổ sung 10.000.000đồng.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số: 30/KL – PC09 ngày 31/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký của cán bộ niêm phong Pvà có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 gói thuốc lá màu trắng hiệu Jet; 53 gói ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng: 01 cây kéo màu trắng bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen có một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu trắng phần đầu bị bể đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút sọc trắng đã qua sử dụng; 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 09 đoạn ống thủy tinh chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu nhọn đầu còn lại gắn đoạn ống hút màu xanh tím đã qua sử dụng; 01 chai gas màu đen có chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 bọc ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng; 01 chai gas màu xanh phía trên có gắn dụng cụ khò lửa đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế có nắp màu đỏ khoét hai lỗ tròn, gắn đoạn ống hút sọc trắng, lỗ còn lại gắn đoạn ống nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công: 01 điện thoại Nokia màu đen (đã qua sử dụng); 01 gói đã được niêm phong ký hiệu “TM2” bên trong chứa tờ tiền Việt Nam: 2.000đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 590.000đồng (năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- ông Phạm Ngọc T trình bày: ngày 23/12/2021 Nguyễn Văn C nhờ thuê xe và chở C đi thăm bệnh tại bệnh viện huyện C, thành phố H với giá 2.000.000đồng (hai triệu đồng) nhưng C chưa trả tiền, ông không biết việc C thuê xe đi mua ma túy, ông thừa nhận có mua ma túy của C 02 lần, mỗi lần 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) và ông chứng kiến toàn bộ sự việc xảy ra ngày 24/12/2021 khi lực lượng chức năng kiểm tra và bắt C cùng số ma túy thu giữ của C, khi C ném gói thuốc lá bên trong có ma túy qua cửa sổ xe thì gói thuốc rơi xuống lề lộ cạnh chiếc xe. Ông đã nhận lại các tài sản cá nhân của mình và tại phiên tòa hôm nay ông không yêu cầu C trả lại tiền thuê xe.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Nguyễn Văn C thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ô Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử thấy rằng: căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên C đã mua ma túy với khối lượng lớn của một người đàn ông tên Tư về chia nhỏ ra bán lại cho các đối tượng nghiện. Quá trình điều tra đã chứng minh được Nguyễn Văn C bắt đầu bán ma túy từ tháng 6/2021 và đã bán ma túy cho Lê Hồng T 03 lần, Trương Tuấn A 02 lần, Phạm Ngọc T 02 lần, Lê Trung H 01 lần vào ngày bị bắt và một số người khác không rõ tên họ và địa chỉ. Theo kết luận số 30/KLGĐ – PC09 ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: “Tinh thể không màu trong 02 gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 24,5033gam”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh, gia tăng tình hình tội phạm, gây mất an ninh trật tự xã hội, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển và mua bán các chất ma túy, tác hại của ma túy từ lâu đã được tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn Cđã đủ yếu tố cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân: bị cáo có 01 tiền án và 04 lần tiền sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong số: 30/KL - PC09, ngày 31/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký của cán bộ niêm phong Pvà có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 gói thuốc lá màu trắng hiệu Jet; 53 gói ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng: 01 cây kéo màu trắng bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen có một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu trắng phần đầu bị bể đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút sọc trắng đã qua sử dụng; 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 09 đoạn ống thủy tinh chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu nhọn đầu còn lại gắn đoạn ống hút màu xanh tím đã qua sử dụng; 01 chai gas màu đen có chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 bọc ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng; 01 chai gas màu xanh phía trên có gắn dụng cụ khò lửa đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế có nắp màu đỏ khoét hai lỗ tròn, gắn đoạn ống hút sọc trắng, lỗ còn lại gắn đoạn ống nỏ thủy tinh đã qua sử dụng là chất cấm và các vật dụng dùng vào việc sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại Nokia màu đen cùng sim Mobifone seri 8401200292482355 đã qua sử dụng; 01 gói đã được niêm phong ký hiệu “TM2” bên trong chứa tờ tiền Việt Nam: 2.000đồng là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công;

- Tiền mặt Việt Nam 590.000đồng (năm trăm chín mươi nghìn đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại số tiền này cho Nguyễn Văn Clà phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Văn C bắt đầu bán ma túy từ tháng 6/2021 nên cần áp dụng hình phạt bổ sung để buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là phù hợp.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 và khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Nguyễn Văn C phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/12/2021.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn C 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung công.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số: 30/KL - PC09, ngày 31/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký của cán bộ niêm phong P và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng; 01 gói thuốc lá màu trắng hiệu Jet; 53 gói ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng; 01 cây kéo màu trắng bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu vàng đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đen có một đầu hàn kín, một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu trắng phần đầu bị bể đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút sọc trắng đã qua sử dụng; 02 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 09 đoạn ống thủy tinh chưa qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu nhọn đầu còn lại gắn đoạn ống hút màu xanh tím đã qua sử dụng; 01 chai gas màu đen có chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 bọc ni lông nẹp miệng chưa qua sử dụng; 01 chai gas màu xanh phía trên có gắn dụng cụ khò lửa đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế có nắp màu đỏ khoét hai lỗ tròn, gắn đoạn ống hút sọc trắng, lỗ còn lại gắn đoạn ống nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công: 01 điện thoại Nokia màu đen, có số IMEI: 357174/06189529/0 cùng sim Mobifone seri 8401200292482355 đã qua sử dụng và 01 gói đã được niêm phong có chữ ký của ông Q, cán bộ niêm phong L, điều tra viên Đ và đóng dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn, ký hiệu “TM2” bên trong chứa tờ tiền Việt Nam: 2.000đồng.

Trả lại cho Nguyễn Văn C số tiền 590.000đồng (năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016: Nguyễn Văn Cphải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ