- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Bản án số: 14/2022/HSST Ngày: 09 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Nguyên Hồng, Ông Hà Văn Sơ.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Cầm Văn T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 26/9/1986 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông: Cầm Văn K và bà: Cầm Thị H (đã chết). Bị cáo có vợ: Lò Thị sinh năm 1985, TQ: bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và 02 con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005).
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 39/2010/HSST ngày 22/6/2010 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt Cầm Văn T 26 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Tại bản án số 43/2018/HSST ngày 19/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt Cầm Văn T 30 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. (Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Thị Đ, sinh năm 1985, địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/7/2022, Cầm Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 27F3 - 4533 đi từ Trạm y tế xã E, huyện Mai Sơn đến nhà Chá Thị M, sinh năm 1970, trú tại bản C, xã D, huyện Mai Sơn tìm mua Hồng phiến để sử dụng. Đến nơi, T hỏi và mua được của Máy 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine và Hồng phiến với giá 100.000VNĐ. T cất giấu gói ma túy vào trong ví giả da màu đen để vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về Trạm y tế xã E, huyện Mai Sơn để ngủ. Khi đi đến địa phận tiểu khu 10, thị trấn E, huyện Mai Sơn thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 2 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 0,06 gam loại Heroine và 0,11 gam loại Methamphetamine; 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ biển kiểm soát 27F3 – 4533 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh kèm theo 02 sim điện thoại di động.
Kết luận số 1250/KLMT ngày 19/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Khối lượng chất bột nén màu trắng thu giữ của Cầm Văn T là 0,06 gam loại Heroine và 0,11 gam loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 121/CT-VKSMS ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Cầm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cầm Văn T từ 14 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh, ví giả da màu đen được chứa trong 01 vỏ phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành.
Trả lại cho bị cáo Cầm Văn T 01 điện thoại di động hiệu vivo 1906, màu xanh đen, kèm 02 sim điện thoại di động.
Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan- chị Lò Thị Đ 01 xe mô tô hiệu honda wave, màu đỏ, biển kiểm soát 27F3-4533.
Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về đường lối giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn lập vào hồi 21 giờ 53 phút ngày 12/7/2022 đối với bị cáo Cầm Văn T cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu xanh có khối lượng 0,06 gam loại Heroine và 0,11 gam loại Methamphetamine, bị cáo thừa nhận là chất ma túy bị cáo tàng trữ sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 1250/KLMT ngày 19/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M = 0,06 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M = 0,11 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,06 gam loại Heroine và 0,11 gam loại Methamphetamine”.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 100.000 VNĐ đi mua được 0,06 gam loại Heroine và 0,11 gam loại Methamphetamine của Chá Thị M (việc mua bán ma túy không có ai cùng tham gia, chứng kiến) với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3] Xét tính chất vụ án:
Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Năm 2010 Cầm Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 26 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 39/2010/HSST ngày 22/6/2010; Năm 2018 Cầm Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt 30 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 43/2018/HSST ngày 19/4/2018. Đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mặc dù bị cáo đã chấp hành xogn hình phạt, án phí và thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 70 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo có nhân thân rất xấu cần lên mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc Heroine và Methamphetamine bị thu giữ, Cầm Văn T khai mua một Chá Thị Máy (việc mua bán ma túy không có ai cùng tham gia, chứng kiến). Ngày 13/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật của Máy, kết quả không thu giữ gì. Tiến hành cho Chá Thị Máy đối chất với Cầm Văn T, kết quả Máy không thừa nhận việc bán ma túy cho T. Ngoài ra không có tài liệu nào chứng minh Máy đã bán ma túy T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ xử lý đối với Máy. Buộc Cầm Văn T phải chịu trách nhiệm đối với 0,06 gam Heroine và 0,11 gam Methamphetamine bị thu giữ khi bắt quả tang.
[7] Vật chứng vụ án:
Đối với: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh, ví giả da màu đen được chứa trong 01 vỏ phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành là vật không còn giá trị sử dụng và công cụ sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu vivo 1906, màu xanh đen, kèm 02 sim điện thoại di động quá trình điều tra xác định là tài sản của Cầm Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu honda wave, màu đỏ, biển kiểm soát 27F3-4533 xác định là tài sản chung của gia đình bị cáo, việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy liên quan đến hành vi phạm tội chị Đ hoàn toàn không biết cần trả lại cho chị Lò Thị Đ quản lý, sử dụng.
[8] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt klhó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì bị cáo Cầm Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 7 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu xanh, ví giả da màu đen được chứa trong 01 vỏ phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành.
Trả lại cho bị cáo Cầm Văn T 01 điện thoại di động hiệu vivo 1906, màu xanh đen, kèm 02 sim điện thoại di động.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- chị Lò Thị Đ 01 xe mô tô hiệu honda wave, màu đỏ, biển kiểm soát 27F3-4533.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - THADS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - THA huyện Mai Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Tráng A Tếnh |