vanban.org

Bản án 14/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Hà S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Hà S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ngày 08 tháng 08 năm 2021 . Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hà Sanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HSST
Ngày 20-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long Giang;

Ông Đoàn Minh Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Hà S, sinh năm 1989 tại Phú Yên; hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã L, huyện X, tỉnh Y; chỗ ở: khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ L; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 13/2007/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2007, bị Toà án nhân dân huyện X, tỉnh Y xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong ngày 27 tháng 02 năm 2008, bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08 tháng 8 năm 2021 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hà S là đối tượng người nghiện ma túy. Lúc 23 giờ 30 phút ngày 07-8-2021, tại đường N34 – KDC 5B thuộc khu phố Bàu Bàng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Lê Hà S đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn Công an thị trấn Lai Uyên kiểm tra hành chính. Lúc này, Lê Hà S dùng tay phải ném 04 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể xuống thảm cỏ nhân tạo trên vỉa hè phía trước ki ốt ô 59/B28 Lô A53. Lê Hà S khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hà S, thu giữ tang vật gồm: 04 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.

Qua quá trình điều tra, đối tượng Lê Hà S khai nhận bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và đã khai nhận như sau:

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Lê Hà S khai nhận: S sử dụng ma túy đá từ tháng 02-2021. Nguồn ma túy đá sử dụng là S mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực khu nhà ở an sinh xã hội thuộc xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. Cụ thể: khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07-8-2021, Lê Hà S điều khiển xe mô tô không rõ biển số mượn của người đàn ông tên Nam (không rõ lai lịch) đến khu vực sân bóng tại khu nhà ở an sinh xã hội thuộc xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương để mua ma túy sử dụng. Lúc này, S hỏi mua được 04 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của của người đàn ông (không rõ lai lịch). Sau đó, S cầm 04 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá đem cất giấu ở trụ điện gần phòng trọ của mình nhằm tránh bị phát hiện rồi đi về phòng trọ của mình thuộc khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương trả xe mô tô không rõ biển số cho Nam. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày 07-8-2021, S đi bộ đến trụ điện lấy 04 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá mang về phòng trọ của mình để sử dụng. Khi S đi bộ về đến phía trước ki ốt ô 59/B28 Lô A53 cạnh đường N34 – KDC5B thuộc khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang S đang cầm 04 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá trên tay phải của S ném xuống thảm cỏ nhân tạo. S mua ma túy đá nhằm mục đích để sử dụng. Nam không biết Lê Hà S sử dụng xe mô tô không rõ biển số đi mua ma túy.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho S, do chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi của Nam cho S mượn xe đi mua ma túy, S khai Nam không biết S sử dụng xe của Nam đi mua ma túy, cũng không xác định được lý lịch của Nam nên không xác minh làm rõ được.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hà S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Hà S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thu giữ vật chứng gồm: 04 (bốn) túi nilon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ của Lê Hà S.

Tại Kết luận giám định số: 534/MT-PC09 ngày 12 tháng 8 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6356 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng 0,5604 gam kèm theo kết luận giám định có: 01 Biên bản mở niêm phong tang vật của vụ án ma túy và 01 biên bản niêm phong tang vật sau giám định của vụ ma túy.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Bản Cáo trạng số 74/CT –VKS-BB ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Lê Hà S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Hà S mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 534/PC09, có dấu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,5604 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo S đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Lúc 23 giờ 30 phút ngày 07 tháng 8 năm 2021, tại đường N34 – KDC 5B thuộc khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh Bình Dương, Lê Hà S có hành vi tàng trữ 0,6356 gam ma túy loại Methamphetamine trên tay phải của Lê Hà S, khi bị lực lượng Công an kiểm tra bị cáo S ném 04 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá xuống thảm cỏ nhân tạo. Hành vi của Lê Hà S bị lực lượng công an phát hiện và đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép các chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhân thân: tại Bản án số 13/2007/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2007, bị Toà án nhân dân huyện X, tỉnh Y xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong ngày 29-02-2008. Bị cáo có nhân thân xấu.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Hà S có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xử lý vật chứng: Đối với 0,5604 gam ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Hà S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Hà S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ngày 08 tháng 08 năm 2021 .

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,5604 gam ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định.

(Theo biên b n giao nh n v t ch ng, tài s n cho Chi c c Thi hành án dân s huy n Bàu Bàng ngày 24 tháng 11 năm 2021).

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lê Hà S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ