- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt:Tuyên bố bị cáo Lù Ngọc K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2022/HSST Ngày 22/ 12/ 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Duy Hưng.
2. Ông Trần Bá Đường.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện BảoYên, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2022/TLST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, đối với các bị cáo:
Lù Ngọc K- Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1983, tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; ĐKHKTT và nơi cư trú: tổ 7, thị trấn R, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Viên C; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: xa phó; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lù A C, con bà Nguyễn Thị C, vợ Lê Thị B (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị bắt trạm giữ từ ngày 15 tháng 9 năm 2022, tạm giam từ ngày 18 tháng 9 năm 2022 – Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 15/9/2022 Lù Ngọc K, sinh năm 1983, trú tại tổ 7, thị trấn R, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu sơn trắng đen BKS 24B1-104.23. Khi đến khu vực ga Bảo Hà thấy có 01 người đàn ông lạ mặt cao khoảng 1,6m đeo khẩu trang, mặc áo cánh dài tay màu đen đang đứng ở cửa ga. K tắt máy xe rồi đi bộ lại gần người này và hỏi “Có không” người đàn ông hiểu ý K hỏi mua ma túy nên nhìn K một lúc rồi nói “Lấy bao nhiêu” K trả lời “400.000đ”, đồng thời K lấy 400.000đ từ túi quần bên phải ra đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền rồi nói “Chờ một lúc”, sau đó người đàn ông đi bộ dọc theo đường sắt hướng Bảo Hà đi Văn Yên. Khoảng 10 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho K 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng nilon màu hồng bên ngoài buộc bằng dây chun màu nâu, K cầm gói ma túy người đàn ông đưa trên tay phải rồi nổ máy điều khiển xe đi theo đường Quốc lộ 279 để về nhà. Khi đi đến địa phận bản Bông 1-2, xã Bảo Hà thì gặp tổ công tác Công an huyện Bảo Yên kiểm tra, K đã tự giác lấy 01 gói ma túy đang cầm trên tay phải ra giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.Tại kết luận giám định số 218/KL-GĐMT ngày 17/9/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng được buộc bằng dây chun màu nâu bên trong chứa chất bột khô vón cục, màu trắng thu giữ của Lù Ngọc K ngày 15/9/2022 có khối lượng 0,64 (Không phẩy sáu mươi tư) gam là loại chất ma túy Heroine (Hê rô in).
Tại cáo trạng số 14 ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo Lù Ngọc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên nội dung Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Lù Ngọc K từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,54 gam là loại chất ma túy Heroine, 01 mảnh ninon màu hồng, 01 dây chun màu nâu được niêm phong trong bì thư in sẵn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa:
Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản hỏi cung và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bị cáo Lù Ngọc K đã cất dấu trái phép trong người 0,64 gam Heroine sau đó bị Công an huyện Bảo Yên bắt giữ. Vì vậy đã có đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, đồng thời khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị tại địa phương. Cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm cân nhắc một mức án phù hợp với hành vi của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, mẹ đẻ bị cáo là Nguyễn Thị C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ người đàn ông nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng chữ chất ma túy với mục đích để sử dụng mà không có mục đích mua bán kiếm lời, bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: 0,54 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 dây chun màu nâu được niêm phong trong phong bì in sẵn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.
0,10 gam Hê rô in Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai lưu mẫu, không đề cập xử lý.
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu sơn trắng đen BKS 24B1-104.23 là tài sản hợp pháp của anh Trần Quang Hậu. Khi bị cáo mượn xe anh Hậu không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp. 01 điện thoại di động màu đỏ đen, loại MOBELL kiểu bàn pjims, đã qua sử dụng của bị cáo quá trình điều tra đã xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan điều tra đã trả lại bị cáo là phù hợp.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:Tuyên bố bị cáo Lù Ngọc K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Lù Ngọc K 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn C hành hình phạt kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 15 tháng 9 năm 2022.
2. Về vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 0,54 gam Hêrôin, 01 mảnh ninon màu hồng; 01 dây chun màu nâu niêm phong trong phong bì in sẵn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Mặt trước phong bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ tại tay phải trong quá trình bắt quả tang Lù Ngọc K sinh năm 1983 tại bản Bông 1- 2 xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày 15 tháng 9 năm 2022. Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Bá Đường - Trần Duy Hưng
Vũ Quang Đại
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Sở tư pháp; - THA (HS-DS); - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Quang Đại |