vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 23/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2021. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HS-ST
Ngày: 23- 01- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Kiệt.

2. Bà Nguyễn Thị Ba.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Phƣơng Hồng Liên- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2021/HS- ST, ngày 29/10/2021. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2021/QĐXX-HS ngày 09/12/2021 đối với bị cáo:

Đoàn Văn C, sinh ngày: 09/12/1992, tại thành phố C.

Nơi cư trú và chổ ở: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp:Tài xế; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ M; Bị cáo có vợ tên Lương Thị B, sinh năm 1993; con có 01 người sinh năm 2014; Tiền sự: không; Tiền án: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2021, tạm giam ngày 21/6/2021 (có mặt tại phiên tòa).

-Người làm chứng:

1) Anh Đặng Minh N, sinh năm 1996 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 24 A, khu phố A, phường B, thành phố M, tỉnh T.

2) Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 123B, khu phố X, phường Y, thành phố Z, tỉnh R.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, tại cầu Bảo Định, trên đường Quốc lộ 50, thuộc khu phố 2, phường 10, thành phố M, tỉnh T, lực lượng Công an phường 10, thành phố M tuần tra kiểm soát phát hiện Đoàn Văn C điều khiển xe mô tô biển số 52M3- 6918 hướng từ Quốc lộ 1A đến Quảng Trường trung tâm tỉnh T có biểu hiện nghi vấn nên chặn dừng kiểm tra phát hiện C đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi áo khoác bên trái C đang mặc trên người.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 bịch nylon màu trắng có viền xanh, một đầu được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng được cho vào bì thư màu trắng niêm phong lại có chữ ký xác nhận ghi họ tên Đoàn Văn C, Nguyễn Văn D, Đặng Minh N và dấu tròn màu đỏ ghi Công an phường X, thành phố M, tỉnh T.

-01 vỏ bao thuốc lá màu xanh hiệu 555;

-01 xe mô tô biển số 52 M3- 6918 (không tìm thấy số khung, số máy);

-01 áo khoác màu xanh dài tay.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 19/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận:

Các mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, có viền màu xanh một đầu, để trong 01 bì thư màu trắng được niêm phong có chữ ký xác nhận ghi họ tên Đoàn Văn C, Nguyễn Văn D, Đặng Minh N và dấu tròn màu đỏ có nội dung CÔNG AN PHƯỜNG X- CÔNG AN THÀNH PHỐ M- TỈNH T gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,1905 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSMT ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh T truy tố bị cáo Đoàn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn văn C với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

-Tịch thu tiêu hủy;

+ Số ma túy còn lại sau giám định

+ 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh hiệu 555;

+ 01 áo khoác màu xanh dài tay đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

-Trả lại bị cáo 01 xe mô tô biển số 52M3- 6918 số máy IP50FMG- 3-10608529.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự không có khiếu nại .

[2] Tại phiên toà bị cáo Đoàn Văn C khai nhận: Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy vào tháng 02/2021. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 52M3-6918 đến khu vực Công viên phường A, thành phố TA, tỉnh L gặp một người tên Ph ( không rõ họ, địa chỉ) nhờ Ph đi mua dùm 200.000đồng ma túy để sử dụng. Phở đồng ý, khoảng 15 phút sau Ph trở lại đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh hiệu 555 bên trong có 01 bịch ma túy đá, bị cáo lấy bao thuốc lá chứa ma túy bỏ vào túi áo khoác màu xanh đang mặc trên người. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô đến nhà bạn ở xã HT, huyện C, tỉnh T chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 52M3 – 6918 đi đến chợ Ba Vác, huyện MC, tỉnh B để nhờ người anh tìm việc làm nhưng sợ bị đưa đi cách ly dịch Covid- 19 nên quay về. Khi về đến cầu Bảo Định trên đường Quốc lộ 50 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Với thời gian, phương thức, phương tiện, vật chứng thu giữ đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo.

[3] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Bản kết luận giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 19/6/ 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận số ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng 0,1905 gam, loại Methamphetamine. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị cáo Đoàn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Ma túy được xem là tệ nạn xã hội làm lây lan các căn bệnh nguy hại đến sức khỏe con người và còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử lý bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn dân cư.

[5] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[ 6] Đối với người tên P mua ma túy dùm cho bị cáo, do bị cáo không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể xác minh, lấy lời khai, hiện đang tiếp tục điều tra làm rõ có cơ sở xử ký sau là có căn cứ.

[7] Vật chứng vụ án:

-Một bì thư được niêm phong có ký hiệu vụ số 118 ghi ngày 19/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Huỳnh Thị Diệu H, trợ lý giám định Nguyễn Quốc P, bên nhận Nguyễn Anh D và hình dấu tròn màu đỏ in chữ “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN T”

-01 vỏ bao thuốc lá màu xanh hiệu 555.

-01 áo khoác màu xanh dài tay

Là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

-01 xe mô tô biển số 52M3- 6918 bị cáo khai mua của một người tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) ở ngã tư Cần Đốt, phường 6, thành phố TA, tỉnh L giá 1.500.000 đồng cách ngày bị bắt khoảng một tháng để sử dụng, xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe.

Tại bản kết luận giám định số 832 ngày 20/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T xe trên có số khung: Trước giám định bị rỉ sét, sau giám định LF3XCG0- 10603099, số máy IP50FMG 310608529 trước và sau giám định không đổi. Qua tra cứu, không tìm thấy dữ liệu. Đây là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến vụ án cần trao trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp quy định pháp luật. Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2021.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy:

+Một bì thư được niêm phong có ký hiệu vụ số 118 ghi ngày 19/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Huỳnh Thị Diệu H trợ lý giám định Nguyễn Quốc P, bên, nhận Nguyễn Anh D và hình dấu tròn màu đỏ in chữ “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN T”

+01 vỏ bao thuốc lá màu xanh hiệu 555.

+01 áo khoác màu xanh dài tay.

-Trả lại bị cáo Đoàn Văn C 01 xe mô tô biển số 52M3- 6918 số máy IP50FMG 310608529, xe rỉ sét, hư hỏng, không kính chiếu hậu, không ốp bửng, không bộc sên, không nổ máy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố M, T).

-Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo phải chịu là 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ