- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật ng…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, qúy, hiếm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HS-ST Ngày 19 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Đức Quỳnh;
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Ngô Tiến Toàn;
- Bà Lê Thị Thu Đông;
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Thủy, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/4/1966 tại huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1944; có vợ là bà Lương Thị H, sinh năm 1971 và có 02 con: con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là thứ nhất.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Bản án số 11/STHS ngày 29/4/2003 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Quyết định đình chỉ vụ án số 31/ĐCVA ngày 12/6/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Văn Đ về tội Cố ý gây thương tích do bị hại rút yêu cầu khởi tố.
(Bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt nam, đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 24-QĐ/UBKTHU ngày 08/8/2022 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Lâm Bình).
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lương Thị H, sinh năm 1971; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 18/5/2022 tại thôn N, xã T, huyện Lâm Bình tổ công tác Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp với cơ quan chức năng lập biên bản vụ việc đối với Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện Lâm Bình về hành vi vận chuyển 02 cá thể rắn nghi là hổ mang chúa và 01 cá thể rắn nghi là hổ mang Trung Quốc.
Quá trình điều tra Đ khai nhận: Khoảng đầu tháng 5/2022 dương lịch không nhớ ngày. Đ một mình đi lên vườn quế của gia đình tại tổ dân phố Đ, thị trấn L để kiểm tra vườn thì phát hiện 01 cá thể rắn hổ chúa, Đ đã bắt được con rắn, sau đó cởi bỏ quần dài đang mặc ra cho rắn vào ống quần mang về nhà. Khi về đến nhà Đ nhốt rắn vào túi cước màu trắng và cất giấu dưới gầm giường. Khoảng 15 ngày sau (không nhớ ngày) khi Đ đang ở nhà một mình thì có một thanh niên khoảng 16 đến 17 tuổi đến nhà trên tay cầm 01 chiếc túi cước màu trắng bên trong có đựng 01 cá thể rắn hổ mang bành và nói “có mua rắn không giá bao nhiêu” Đ nói “có mua giá là 120.000đ/01kg”. Đ cân rắn được 1,5kg và trừ 0,1kg túi, thành tiền là 168.000 đồng Đ trả người thanh niên đó 160.000 đồng, sau đó Đ cất giấu con rắn dưới gầm giường trong nhà cùng chỗ với con rắn mà Đ đã bắt được trước đó. Khoảng 03 ngày sau Đ đang ở nhà thì có 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi đến trên tay cầm theo 01 túi màu đen và hỏi “có mua rắn hổ mang chúa không giá bao nhiêu” Đ trả lời “có mua nếu là hổ chúa thì giá là 250.000đ/1kg” sau khi kiểm tra và xác định đúng là rắn hổ chúa, Đ cân con rắn cùng chiếc túi có trọng lượng là 2,5kg Đ trừ trọng lượng chiếc túi là 0,2kg rồi trả cho người đàn ông đó 570.000 đồng.
Khoảng 15 giờ ngày 18/5/2022 Đ cho cả ba túi đựng 03 cá thể rắn vào trong giỏ xe đạp rồi đút vào bao tải dứa để vào phía trước yên xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68 rồi điều khiển chở 03 cá thể rắn đi thành phố Tuyên Quang tiêu thụ, khi đến thôn N, xã T, huyện Lâm Bình khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện lập biên bản, niêm phong 03 (ba) con rắn và tạm giữ phương tiện liên quan nêu trên.
Tại Kết luận giám định động vật số 655/STTNSV ngày 20/5/2022 của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận:
- Xác định tên loài động vật:
02 (hai) cá thể động vật còn sống được đánh số thứ tự 01 và 02 là rắn hổ chúa có tên khoa học Ophiophagus hannah.
01 (một) cá thể động vật còn sống được đánh số thứ tự là 03 là loại Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra.
- Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
1. Loài rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I. Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
2. Loài rắn hổ chúa có tên trong Nhóm IB Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
3. Loài rắn hổ mang Trung Quốc có tên trong Nhóm IIB Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 23/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Lâm Bình kết luận: 01 cá thể rắn hổ mang Trung Quốc, tên khoa học Naja atra có giá là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).
* Về vật chứng: Thu giữ 02 cá thể rắn hổ chúa và 01 cá thể rắn hổ mang Trung Quốc; tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68 cùng đăng ký xe; 01 căn cước công dân số 008066001257 cấp ngày 23/4/2021 mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 giỏ xe bằng nhựa, màu xám, kích thước (27x25x20)cm; 01 bao tải dứa màu cam, kích thước (55x94)cm; 01 túi vải màu đen kích thước (44x70)cm; 02 túi lưới màu trắng, kích thước (55x90)cm; 01 chiếc cân đồng hồ nhãn hiệu “Nhơn Hòa” loại 5kg; 01 dây cao su màu đen, dài 158cm.
Về xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Bình, cụ thể:
Ngày 16/6/2022 ra Quyết định số 10/QĐ-XLVC tịch thu chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội để chăm sóc thả về tự nhiên 03 (ba) cá thể rắn nêu trên.
Ngày 29/6/2022 ra quyết định xử lý vật chứng số 03/QĐ-CQĐT trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ 01 Căn cước công dân số 008066001257 cấp ngày 23/4/2021 mang tên Nguyễn Văn Đ, trả lại bà Lương Thị H 01 chiếc cân đồng hồ.
Trước cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị can còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời khai bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ nội dung trên, Cáo trạng số 12/CT-VKSLB ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, qúy, hiếm, quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, qúy, hiếm. Áp dụng khoản 1 Điều 244; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 50.000.000đồng đến 60.000.000đồng.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68 cùng đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Đ. Trả lại cho bà Lương Thị H ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68.
- Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xe bằng nhựa, màu xám, kích thước (27x25x20) cm; 01 bao tải dứa màu cam, kích thước (55x94) cm; 01 túi vải màu đen kích thước (44x70)cm; 02 túi lưới màu trắng, kích thước (55x90) cm; 01 dây cao su màu đen, dài 158cm.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo trình bày: rất hối hận về nhành vi của mình, cam đoan không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Lâm Bình; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/5/2022 Nguyễn Văn Đ đã có hành vi vận chuyển trái phép 03 (ba) cá thể động vật sống là rắn, trong đó có 02 (hai) cá thể rắn thuộc loại rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus Hannah Nhóm IB Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ và 01 (một) cá thể rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra thuộc nhóm IIB Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, qúy, hiếm, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự đa dạng loài cần được bảo vệ, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định về bảo tồn thiên nhiên, gây tác động xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Về nhân thân, tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2003/STHS ngày 11/4/2003 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù về tội cố ý gấy thương tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời tuyên truyền giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp 3.000.000đ để khắc phục hậu quả, đã nộp phạt vi phạm hành chính số tiền 9.000.000đ thể hiện ý thức ăn năn hối cải, chấp hành pháp luật.
Do đó, căn cứ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, có tài sản nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Số tiền 3.000.000đ bị cáo đã tạm nộp tại Biên lai thu số 0000526, ngày 29/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Bình được trừ vào khoản tiền phạt.
. Về xử lý vật chứng:
- Cần Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68 cùng đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Đ. Trả lại cho bà Lương Thị H ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68.
- Đối với 01 giỏ xe bằng nhựa, màu xám, kích thước (27x25x20) cm; 01 bao tải dứa màu cam, kích thước (55x94) cm; 01 túi vải màu đen kích thước (44x70)cm; 02 túi lưới màu trắng, kích thước (55x90) cm; 01 dây cao su màu đen, dài 158cm, xét thấy không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
. Về các vấn đề khác: Đối với hành vi vận chuyển, buôn bán 01 cá thể động vật còn sống là loại rắn hổ mang Trung Quốc là nhóm IIB là động vật trên cạn thuộc Phụ lục II nên Công an huyện Lâm Bình đã chuyển tài liệu đến Hạt kiểm lâm huyện Lâm Bình để xử lý hành chính theo thẩm quyền. Ngày 27/7/2022 Hạt kiểm lâm huyện Lâm Bình ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vận chuyển 01 rắn hổ mang Trung Quốc, mức phạt 9.000.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt xong.
Đối với 02 người đàn ông bán 02 cá thể rắn cho Đ, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để giải quyết.
Đối với bà Lương Thị H là chủ sơ hữu chiếc cân nhãn hiệu “Nhơn Hòa” nhưng khi Đ dùng để cân rắn thì bà H không biết nên không có căn cứ để xử lý.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 244; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, qúy, hiếm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/8/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), được trừ đi số tiền 3.000.000đ bị cáo đã tạm nộp tại Biên lai thu số 0000526, ngày 29/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo còn phải nộp 47.000.000đ (Bốn mươi bẩy triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68 cùng đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Đ. Trả lại cho bà Lương Thị H ½ giá trị 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B2-524.68.
- Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xe bằng nhựa, màu xám, kích thước (27x25x20) cm; 01 bao tải dứa màu cam, kích thước (55x94) cm; 01 túi vải màu đen kích thước (44x70)cm; 02 túi lưới màu trắng, kích thước (55x90) cm; 01 dây cao su màu đen, dài 158cm.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 27/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/8/2022).
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Lâm Bình; - Công an huyện Lâm Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TQ; - Chi cục THADS huyện Lâm Bình; - UBND thị trấn L; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đức Quỳnh |