- Tranh chấp gì? án hình sự — "C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Sẻn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HS-ST Ngày: 12/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Kha
2. Ông Nguyễn Văn Long
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Hiếu, thư ký Tòa án nhân dân huyện H
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: ông Đinh Hồng Khanh, kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2022 đối với:
1. Bị cáo: Sẻn Văn C; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/5/1986 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chỉ; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Sẻn Văn C1 (đã chết) và bà Trần Thị P; vợ: Chìu Tài M; con: có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/01/2022, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.
2. Bị hại: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: số 79 phố H1, thị trấn Đ, huyện Đ, Quảng Ninh, có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Văn C2, sinh năm 1970.
Địa chỉ: thôn 4, xã Q1, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Hoàng Mạnh C3, sinh năm 1971.
Địa chỉ: khu M, thị trấn Q2, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
4. Nguyên đơn dân sự: anh Bùi Thế A, sinh năm 1974.
Địa chỉ: tổ 53, khu 5, phường H2, thành phố H3, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 11/12/2021, tại Km 236+500 Quốc lộ 18 thuộc thôn 8, xã Đ1, huyện H, Sẻn Văn C có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 14C-279.92 chở gỗ keo, hướng huyện H đi huyện Đ, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn theo quy định, đã đâm vào khu vực ba đờ xốc phía sau xe ô tô khách biển kiểm soát 14B-028.00, do anh Bùi Văn C2 điều khiển đi phía trước cùng chiều, đã dừng xe lại khi thấy chị Nguyễn Thị T đang đi bộ phía trước nhặt túi đồ thì bị ngã cách đầu xe của anh C2 khoảng 05m, làm xe ô tô của anh C2 bị đẩy dồn, bánh trước bên phải xe đè vào cẳng chân trái chị T gây tai nạn. Hậu quả: chị Nguyễn Thị T bị gãy cẳng chân trái, hai xe ô tô bị hư hỏng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 21 giờ ngày 11/12/2021 thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường dải nhựa rộng 7,5m, đường hai chiều giữa đường có kẻ vạch sơn đứt đoạn phân chia hai phần đường, phần đường bên phải rộng 3,75m đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất (việc mô tả hiện trường hướng huyện H đi huyện Đ): tại mặt đường bên phải xe ô tô tải biển kiểm soát 14C-279.92 ký hiệu (1) đầu xe hướng đi huyện Đ, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 0,79m; trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 0,32m. Đám mảnh vỡ thủy tinh và nhựa ký hiệu (2) trong diện (10 x 3,8)m. Tâm đám vỡ cách mép đường bên phải 1,9m. Vết phanh đôi ký hiệu (3), kích thước (3,1 x 0,47)m có hướng H đi huyện Đ. Đầu vết cách mép đường bên phải 3,05m; đuôi vết nằm tại mặt lốp bánh sau bên trái xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00. Xe ô tô khách biển kiểm soát 14B-028.00 ký hiệu (4) đầu xe hướng huyện Đ, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 1,1m; trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 1m. Đám máu ký hiệu (5) trong diện (2,3 x 1,4)m, tâm nằm tại trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 và cách mép đường bên phải 1,1m. Xe mô tô biển kiểm soát 14L1-162.24 đầu hướng Đ, trục bánh trước cách mép đường bên phải 0,65m, cách trục bánh trước xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 là 15,64m (Bút lục 83).
Kết quả khám nghiệm các phương tiện thể hiện: Xe ô tô biển kiểm soát 14C-279.92 toàn bộ phía trước đầu xe gồm: Ba đờ sốc, mặt ga lăng bị móp méo, cong vênh, rách vỡ bị đẩy dồn từ trước về sau; thanh giằng trước hai đầu sắt xi bị đẩy dồn theo hướng từ trước về sau. Xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 toàn bộ phía sau xe gồm: Ba đờ xốc sau, nắp cốp sau bị rách vỡ, cong vênh, đẩy dồn từ sau về trước trong diện (2,08 x 0,98)m; cụm đèn hậu, xi nhan sau bên phải bị vỡ hoàn toàn; mặt ngoài bu ly động cơ bị gãy vỡ; dây cu doa hệ thống điều hòa và két nước bị đứt; đầu sắt xi phía sau bên phải bị đẩy dồn từ sau về trước; má ngoài lốp trước bên phải có vùng bám dính chất mầu nâu đỏ nghi máu, trong diện (40 x 10)cm (Bút lục 86, 88).
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 940 ngày 05/01/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Quảng Ninh, kết luận: thương tích của Nguyễn Thị T dập nát gối cẳng bàn chân trái không có khả năng bảo tồn đã được phẫu thuật cắt cụt 1/3 dưới đùi trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 65% (Sáu mươi lăm phần trăm). (Bút lục 63).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 10/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 là 22.269.990 đồng, trong đó: vật tư thay thế là 7.269.990 đồng; tiền công sửa chữa là 15.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Sẻn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, quá trình điều khiển xe bị cáo đã không kiểm soát được tốc độ của xe, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước dẫn đến tai nạn làm chị Nguyễn Thị T bị thương tích tổn hại 65% sức khỏe. Tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại cơ quan điều tra có lời khai như sau: Khoảng 18 giờ ngày 11/12/2021 chị điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14L1-162.24 từ khu công nghiệp Texhong H về nhà tại thị trấn Đ. Khi đi đến khu vực quốc lộ 18 thuộc thôn 8, xã Đ1, huyện H thì chị làm rơi một túi bóng đen đựng quần áo xuống giữa đường, chị cho xe dừng lại sát mép đường bên phải rồi xuống xe vẫy tay ra hiệu cho xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 đi phía sau dừng lại để chị nhặt túi bóng. Khi quan sát thấy xe ô tô dừng lại, chị đi đến và đang nhặt túi bóng lên thì nghe tiếng va chạm mạnh, ngay sau đó xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 tiến về phía chị, chị không nhặt túi nữa mà lùi nhanh lại phía sau, khi gần đến khu vực mép đường bên phải thì chị ngã ra đường, lúc này lốp trước bên phải xe ô tô 14B1-028.00 đè lên cẳng chân trái của chị, sau đó chị được đi đưa điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh và bị tổn hại 65% sức khỏe. Quá trình điều tra, bị cáo đã đến thăm hỏi và bồi thường cho chị tổng số tiền 160.000.000 đồng. Chị không yêu cầu gì thêm và tại đơn xin xét xử vắng mặt chị đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Văn C2 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai trong hồ sơ phù hợp với lời khai của bị cáo và bị hại về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ việc tai nạn giao thông mà anh C2 là người trực tiếp điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00, khi quan sát thấy phía trước có chị T đang ra nhặt túi bóng đen rơi ra giữa đường, anh đã cho xe dừng hẳn lại. Ngay sau đó, xe của bị cáo C điều khiển đi phía sau đã đâm vào đuôi xe của anh khiến xe của anh bị dồn đẩy về phía trước và chèn lên chân trái của chị T làm chị T gãy chân.
Nguyên đơn dân sự anh Bùi Thế A vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh A là chủ xe 14B-028.00, anh thuê anh Bùi Văn C2 lái xe chở hàng từ đầu năm 2018 đến nay nhưng chỉ thỏa thuận miệng về tiền lương và ngày công hàng tháng chứ không có hợp đồng. Ngày 11/12/2021, anh C2 điều khiển xe bị xe của bị cáo đâm vào gây hư hỏng một phần. Quá trình điều tra, anh có yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô của anh bị hư hỏng, bị cáo đã khắc phục toàn bộ theo yêu cầu của anh nên anh không có yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Mạnh C3 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra cho biết anh là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 14L1-162.24. Ngày 11/12/2021 anh cho chị T mượn xe mô tô nói trên để chị T về Đ, sau đó xẩy ra tai nạn. Tuy nhiên xe mô tô của anh không bị hư hỏng gì và Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh nên anh không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, kết quả phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người liên quan về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ việc tai nạn giao thông.
Tại cáo trạng số 15/CT-VKSHH ngày 28/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố Sẻn Văn C về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Sẻn Văn C từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận xong nên không đề cập xử lý. Đối với 01 giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo: đề nghị trả lại cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[ ] Về hành vi phạm tội của bị cáo lời khai nhận tội của bị cáo Sẻn Văn C tại phiên tòa cơ bản rõ ràng, phù hợp với lời khai của bị hại và những người liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định: khoảng 18 giờ 20 phút ngày 11/12/2021, tại khu vực đường Quốc lộ 18 thuộc thôn 8, xã Đ1, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Sẻn Văn C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14C-279.92, không giữ tốc độ và khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình, đã đâm vào phía sau xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00 do anh Bùi Văn C2 điều khiển đã dừng lại ở phần đường bên phải theo chiều đi của xe 14B-028.00, hậu quả làm xe ô tô của anh C2 bị dồn đẩy về phía trước đè lên chân của chị T làm chị T bị thương tích tổn hại 65% sức khỏe, 02 xe ô tô bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, gây thương tích cho chị T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 65%, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 15/CT-VKSHH ngày 28/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với Sẻn Văn C là đúng người, đúng tội, lời luận tội có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định an toàn giao thông, gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông, nhưng không tuân thủ các quy tắc an toàn theo quy định của Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe không tuân thủ quy định về tốc độ trên đường, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình, hậu quả làm chị T thương tích tổn hại 65% sức khỏe. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm trật tự an toàn giao thông, gây tâm lý lo lắng cho người tham gia giao thông. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi tai nạn xẩy ra, bị cáo đã thăm hỏi, động viên và bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 160.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về hình phạt đối với bị cáo: bị cáo trong quá trình tham gia giao thông, không tuân thủ quy tắc an toàn theo Luật giao thông đường bộ, đã gây tai nạn, hậu quả làm bị thương 01 người với tỷ lệ thương tích 65%. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội cũng đủ giáo dục thành công dân có ích. Đối với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đang áp dụng đối với bị cáo cần phải hủy bỏ.
Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 14B-028.00, 01 xe mô tô biển kiểm soát 14L1-162.24, 01 xe ô tô biển kiểm soát 14C-279.92 cùng một số giấy tờ liên quan đến các phương tiện trên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Sẻn Văn C cần thiết trả lại cho bị cáo do không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe.
Về trách nhiệm dân sự: các bên đã thỏa thuận xong về bồi thường thiệt hại, bị hại, nguyên đơn dân sự không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, hiện tại không có việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Sẻn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Sẻn Văn C 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/4/2022).
Giao bị cáo Sẻn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Sẻn Văn C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 05 ngày 14/01/2022 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 04 ngày 14/01/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đối với Sẻn Văn C.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Sẻn Văn C 01 (một) giấy phép lái xe số 220170007029 hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 20/6/2017.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Sẻn Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an huyện H; - Cơ quan THAHS Công an huyện H; - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an huyện H; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện H; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Thanh |