vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 23/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị N 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hồ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T , huyện G , tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Thị N - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2022/HS-ST
Ngày:23-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ninh.

2. Bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninhtham gia phiên toà: Ông Lương Bá Xanh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:10/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 11tháng 3 năm 2022, đối vớibị cáo:

Hồ Thị N, tên gọi khác: không có;sinh năm 1992, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp C, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ tạm trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh;nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quốc T và bà Ngô Thị N ;chồng, con: chưa có;tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị N , sinh năm 1954 (đã chết);

Đại diện hợp pháp cho bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị T , sinh năm 1970; địa chỉ: ấp C , xã P , huyện G , tỉnh Tây Ninh.

+ Chị Phan Thị P , sinh năm 1961; địa chỉ: ấp S , xã P , huyện G , tỉnh Tây Ninh.

+ Ông Phan Văn S , sinh năm 1975; địa chỉ: ấp S , xã P , huyện G , tỉnh Tây Ninh.

Bà T , bà P đã ủy quyền cho ông S tham gia tố tụng (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 28-12-2021); ông S có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 55 phút, ngày 23-11-2021, bị cáo Hồ Thị N không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 51F7-8784 chạy ngược chiều trên tỉnh lộ 782 phần đường hướng xã P đi xã B . Khi đến chốt đèn tín hiệu xanh đỏ, bị cáo quan sát thấy đèn đỏ đối với các phương tiện đi thẳng trên tỉnh lộ 782, nên bị cáo điều khiển xe băng qua đường tỉnh lộ 782 đi vào đường Hương lộ 1 để đi về xã T . Khi băng qua đường, bị cáo không quan sát phía trước hướng chạy, đến khi qua hết đường tỉnh lộ 782 thì bị cáo thấy bà Nguyễn Thị N , cách bị cáo khoảng hơn 01 mét, do khoảng cách quá gần, bị cáo tránh sang trái, cái thau trên xe và phần phía sau xe va chạm vào phần đầu xe đạp điện của bà N làm bà N và xe đạp điện ngã xuống đường, gia đình bà N cùng bị cáo thấy bà N bị thương nhẹ, nên không trình báo Công an mà tự chở bà N đến bệnh viện X , tỉnh Tây Ninh cấp cứu đến 15 giờ cùng ngày, bà N tử vong.

Quá trình điều tra, bị cáođã thành khẩn khai báo về hành vi của bị cáo.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1480 ngày 30-11-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyễn Thị N chết do chấn thương sọ não.

Tại Bản kết luận giám định nồng độ cồn trong máu số 1482 ngày 25-11-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Thị N và Hồ Thị Ng không có nồng độ cồn trong máu.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô, biển số 51F7-8784, số máy RD 1P53FM01003675, số khung: 007516, dung tích xi lanh 108 cm3, đã qua sử dụng; 01 (một) thau bằng kim loại, đường kính 65 cm x cao 20 cm; 01 (một) áo khoát dài tay, màu đen; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 50.000.000đồng. Gia đình bà N đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSGD ngày 11-02-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Hồ Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”theođiểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầugiữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị N phạm tội tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; căn cứđiểm a khoản 2 Điều 260,điểmb, skhoản 1, khoản 2Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Thị N 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi củabị cáo:Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Hồ Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai, củangười làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ ngày 23-11-2021, Hồ Thị N không có giấy phéo lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 51F7-8784, chạy ngược chiều trêntỉnh lộ 782 phần đường hướng xã P đi xã B , bị cáo chạy xe vào đường hương lộ 1, thuộc ấp S , xã P , xảy ra va chạm với xe đạp điện do bà Nguyễn Thị N đang điều khiển làm bà N té ngã xuống đường, dẫn đến bà N chết do chấn thương sọ não. Do đó,có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy địnhđiểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Nêncáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ngoài ra hành vi của bị cáo còn vi phạm khoản 9 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng”.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông còn kém, nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứngvới hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe những người khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về hình phạt: Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy,bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, khi quyết định hình phạt không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xem xét cho hưởng án treo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Dobị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô, biển số 51F7-8784, số máy RD 1P53FM01003675, số khung: 007516, dung tích xi lanh 108 cm3, đã qua sử dụng là của bị cáo, nên trả cho bị cáo là phù hợp.

- Đối với 01 (một) thau bằng kim loại, đường kính 65 cm x cao 20 cm của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) áo khoát dài tay, màu đen; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen,không còn giá trị kinh tế nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260;điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Hồ Thị N 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hồ Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T , huyện G , tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Hồ Thị N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị caó đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

2.2. Về xử lý vật chứng:

- Trả cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô, biển số 51F7-8784, số máy RD 1P53FM01003675, số khung: 007516, dung tích xi lanh 108 cm3, đã qua sử dụng; 01 (một) thau bằng kim loại, đường kính 65 cm x cao 20 cm.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoát dài tay, màu đen; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.

3.Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016:

Bị cáo Hồ Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồngán phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ