vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Tuyên án 15/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Võ Hồng C (N), Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P (PC) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P (PC) số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) là hình phạt chính. Xử phạt bị cáo Võ Hồng C (N) số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) là hình phạt chính. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh Phong cùng đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Võ Hồng C (N), Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P (PC) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BÉN TRE
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2022/HS-ST
Ngày: 15 – 7 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BÉN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Săng

2. Ông Võ Minh Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

HUỲNH THANH P (PC), sinh ngày: 06/9/1981 tại Bến Tre

Nơi đăng ký thường trú và sinh sống hiện nay: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thanh B (Đã chết) và bà Lâm Thị N, sinh năm: 1949; Có vợ: Nguyễn Thị Minh T, sinh năm: 1982 và 02 con, lớn nhất sinh năm: 2015, nhỏ nhất sinh năm: 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2022 cho đến nay (Có mặt).

VÕ HỒNG C (N), sinh ngày: 04/4/1974 tại Bến Tre

Nơi đăng ký thường trú và sinh sống hiện nay: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn N sinh năm: 1940 và bà Võ Thị T (Đã chết); Có vợ: Huỳnh Thị N, sinh năm: 1982 và 01 con sinh năm: 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2022 cho đến nay (Có mặt).

NGUYỄN NGỌC S, sinh ngày: 16/10/1972 tại Bến Tre

Nơi đăng ký thường trú và sinh sống hiện nay: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K (Đã chết) và bà Trương Thị L sinh năm: 1941; Có vợ: Lê Thị Hồng N, sinh năm: 1977 và 02 con, lớn nhất sinh năm: 1999, nhỏ nhất sinh năm: 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2022 cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Tấn C (L), sinh năm: 1977 (Có mặt)

2. Hồ Văn Đ (H), sinh năm: 1976 (Có mặt)

3. Nguyễn Thiện T (5 C), sinh năm: 1964 (Có mặt)

4. Phạm Trọng H (8 O), sinh năm: 1962 (Có mặt)

5. Lê Văn T, sinh năm: 1952 (Có mặt)

6. Nguyễn Văn B, sinh năm: 1966 (Có mặt)

Cùng nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1972 (Có mặt)

2. Phan Văn L, sinh năm: 1969 (Có mặt)

Cùng nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2021 bị cáo Huỳnh Thanh P (PC) truy cập mạng internet nên biết được lịch thi đấu, hình thức và thể lệ cá cược giữa các đội bóng vòng chung kết bóng đá Châu Âu EURO 2020 – 2021. Khoảng 19 giờ ngày 17/6/2021, bị cáo P biết được thề lệ cá cược trận đấu giữa 02 đội bóng UKRAINE và Bắc MACEDONIA diễn ra lúc 20 giờ cùng ngày là: “UKRAINE 1.2 a85 tx2.1.41 H1 UKRAINE 1.41 tx3.4 a 75”. Cụ thề:

- “UKRAINE 1.2 a85” nghĩa là nguyên trận UKRAINE kèo trên chấp nửa trái ăn 85%.

- “tx2.1.41” là nguyên trận tài xỉu 2 trái ¼ lựa, tức là tổng tỷ số từ 03 trái trở lên thì tài thắng, dưới 03 trái xỉu thắng, lựa là lựa chọn kèo trên hay kèo dưới, nếu lựa thì thắng được 95%.

- “H1 UKRAINE 1.41” là hiệp 1 UKRAINE chấp ¼ trài lựa nếu hiệp 01 tồng tỷ số từ 01 trái trở thi UKRAINE thắng, lựa là lựa kèo trên hay kèo dưới, lựa kèo trên thì thắng 95%.

- “tx3.4 a 75” là tài xỉu ¾ trài ăn 75% nếu hiệp 1 UKRAINE thắng 01 trài trở lên tài thắng, dưới 01 trái xỉu thắng, thắng 75%.

Bị cáo P trực tiếp gửi tin nhắn kèo cá cược “UKRAINE 1.2 a85 tx2.1.41 H1 UKRAINE 1.41 tx3.4 a 75” cho Nguyễn Tấn C (L) và bị cáo Võ Hồng C (N) để nhận cá cược được thua bằng tiền với C và bị cáo C. Sau khi nhận tin nhắn của bị cáo P và C trực tiếp nhắn tin cá cược cho P nội dung: “UKRAINE IC OK” tức là Công bắt UKRAINE nguyên trận cược 1.000.000 đồng. Bị cáo P tiếp tục nhắn cho C “H2 UKRAINE 1.21 tx 1.1.21” và được C trả lời: “H2 IC xỉu IC OK” nghĩa là hiệp 2 C bắt UKRAINE chấp nửa trái, ăn 95%, cược 1.000.000 đồng và hiệp 2 bắt xỉu, ăn 95% cược 1.000.000 đồng.

Bị cáo Võ Hồng C nhận được tin nhắn của bị cáo P thì sao chép tin nhắn và gửi toàn bộ tin nhắn cho 3 đối tượng là bị cáo Nguyễn Ngọc S, anh Hồ Văn Đ và Nguyễn Thiện T và nhận kèo cá cược. Bị cáo C thống nhất với bị cáo S, anh Đ và T hạ tỷ lệ cá cược, nếu lựa thì thắng 90%, bị cáo Chưởng 5% chênh lẹch. Cụ thể:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc S nhắn tin trả lời bị cáo C: “UKRAINE 5X, tai 5X H1 UKRAINE 1C, tai 5X OK” và tin nhắn “H2 UKRAINE 1C, tai 1C OK” có nghĩa là bị cáo S bắt UKRAINE nguyên trận cược 500.000 đồng, tài nguyên trận cược 500.000 đồng, hiệp 1 bắt UKRAINE cược 1.000.000 đồng, tài hiệp 1 cược 500.000 đồng. Hiệp 2 bắt UKRAINE cược 1.000.000 đồng, bắt tài hiệp 2 cược 1.000.000 đồng.

- Nguyễn Thiện T nhắn tin trả lời bị cáo C: “UKRAINE 15X OK” và tin nhắn “H2 UKRAINE 1C OK” có nghĩa là T bắt UKRAINE nguyên trận cược 1.500.000 đồng, hiệp 2 bắt UKRAINE cược 1.000.000 đồng.

- Hồ Văn Đ nhắn tin trả lời bị cáo C: “UKRAINE 5X BI 5X OK” và “Bi 2C OK” nghĩa là Đ bắt UKRAINE nguyên trận cược 500.000 đồng, trận Bỉ – Hà Lan bắt Bỉ nguyên trận cược tổng cộng 2.500.000 đồng.

- Bị cáo Võ Hồng C sau khi nhận cá cược với T, Đ và S, bị cáo C đã tồng hợp lại kèo cá cược rồi chuyển lại 01 phần kèo cá cược cho bị cáo Huỳnh Thanh P cụ thề: “UKRAINE 2C, tai UKRAINE 5X, H2 UKRAINE 2C, tai H2 UKRAINE 5X” nghĩa là bắt UKRAINE, nguyên trận cược 2.000.000 đồng, tài nguyên trận bắt UKRAINE cược 500.000 đồng, hiệp 2 bắt UKRAINE cược 2.000.000 đồng, hiệp 2 bắt tài chọn UKRAINE cược 500.000 đồng.

- Nguyễn Thiện T chia lại kèo cá cược của mình với C cho: Phạm Trọng H (T), sinh năm: 1962 cư trú tại Thôn 8, xã Đ, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh N (Tạm trú tại ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh T) 800.000 đồng và Hồ Văn Đ 800.000 đồng.

- Phạm Trọng H tiếp tục chia lại cho Nguyễn Văn B và Lê Văn T mỗi người là 100.000 đồng.

Khi trận đấu bắt đầu cả nhóm gồm: Nguyễn Thiện T, Nguyễn Tấn C, Hồ Văn Đ, Phạm Trọng H, Lê Văn T, Nguyễn Văn B, Phan Văn L, Nguyễn Hữu T, bị cáo Nguyễn Ngọc S tập trung tại nhà của Nguyễn Thiện T để xem trực tiếp bóng đá trên Đài truyền hình VTV6 đến 21 giờ 50 kết thúc trận đấu. Đội UKRAINE thắng đội Bắc MACEDONIA tỳ số 2-1, bàn thắng được ghi ở phút thứ 29, 34 và phút thứ 57 của trận đấu (Trong đó hiệp 1 đội UKRAINE thắng đội Bắc MACEDONIA tỳ số 2-0, hiệp 2 đội UKRAINE thua đội Bắc MACEDONIA tỳ số 1-0). Khi trận đáu vừa kết thúc thì lực lượng Công an xã T nhận tin báo về tội phạm nên tiến hành đến nhà ông Nguyễn Thiện T lập biên bản và tạm giữ tang vật gồm:

- 01 (Một) xe môtô biển số 71C1 – 132.19 của Nguyễn Thiện T, 01 (Một) xe môtô biển số 71S2 – 6645 của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 01 (Một) xe môtô biển số 71C1 – 025.54 của Lê Văn T, 01 (Một) xe môtô biển số 63S8 – 4127 của Nguyễn Văn B, 01 (Một) xe môtô biển số 71K4 – 1409 của Nguyễn Hữu T, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen của Phan Văn L, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu hồng của Nguyễn Hữu T, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của Nguyễn Văn B, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của Lê Văn T, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen của Hồ Văn Đ, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh của Nguyễn Tấn C, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám, SAMSUNG màu trắng và 06 tờ giấy lịch được đánh số thứ tự từ 01 đến 06 tất cả của Nguyễn Thiện T, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của bị cáo Võ Hồng C, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng của bị cáo Huỳnh Thanh P.

- Tạm giữ của Nguyễn Thiện T số tiền 18.309.000 đồng, Nguyễn Tấn C số tiền 4.035.000 đồng, Hồ Văn Đ số tiền 3.503.000 đồng, Phạm Trọng H số tiền 1.635.000 đồng, Lê Văn T số tiền 3.934.000 đồng, Nguyễn Văn B số tiền 3.280.000 đồng, Phan Văn L số tiền 224.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Ngọc S tự nguyện giao nộp 4.500.000 đồng là số tiền S dùng để tham gia đánh bạc.

Quá trình điều tra trên cơ sở các tin nhắn cá cược và kết quả trận đấu cùng lời khai của các đối tượng đánh bạc đã xác định được số tiền thắng thua và tiền dùng đánh bạc của các đối tượng như sau:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc S cá cược với bị cáo Võ Hồng C: S bắt đội UKRAINE đá nguyên trận chấp nữa trái ăn 85%, số tiền cá cược 500.000 đồng, kết quả UKRAINE thắng nên S thắng 425.000 đồng; S bắt tài đội UKRAINE lựa ăn 90% số tiền là cá cược 500.000 đồng nên thắng 450.000 đồng.

Cá cược theo hiệp:

+ Hiệp 1 S bắt đội UKRAINE chấp ¼ trái ăn 90% số tiền cá cược 1.000.000 đồng, kết quả thắng 900.000 đồng; bắt tài UKRAINE chấp ¾ trái ăn 75% số tiền cá cược 500.000 đồng, kết quả thắng 375.000 đồng;

+ Hiệp 2 S bắt đội UKRAINE chấp nữa trái ăn 90% số tiền cá cược 1.000.000 đồng, bắt tài UKRAINE chấp nữa trái ăn 90% số tiền cá cược 1.000.000 đồng, kết quả hiệp 2 UKRAINE thua 0 – 1 nên S thua toàn bộ kèo cá cược ở hiệp 2.

Vậy số tiền C và S cùng dùng đánh bạc trong trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA là 6.650.000 đồng (tiền cá cược là 4.500.000 đồng, tiền thắng là 2.150.000 đồng).

- Nguyễn Thiện T cá cược với bị cáo Võ Hồng C: Thanh bắt đội UKRAINE đá nguyên trận chấp nữa trái ăn 85% số tiền “15X” tức là 1.500.000 đồng, kết quả UKRAINE thắng nên T thắng cược 1.275.000 đồng; hiệp 2 T bắt UKRAINE chấp nữa trái ăn 90% số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua. Tổng số tiền cùng dùng vào việc đánh bạc giữa Võ Hồng C và Nguyễn Thiện T trong trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA là 3.775.000 đồng (tiền cá cược là 2.500.000 đồng, tiền thắng là 1.275.000 đồng)

- Hồ Văn Đ cá cược với bị cáo Võ Hồng C: Đ bắt đội UKRAINE đá nguyên trận chấp nữa trái ăn 85% số tiền là 500.000 đồng, UKRAINE thắng nên Đ thắng 425.000 đồng, Đ bắt đội Bỉ trong trận Bỉ và Hà Lan số tiền 2.500.000 đồng, khi Công an lập biên bản thì trận đấu chưa diễn ra. Tổng số tiền dùng đánh bạc giữa Đ và C trong trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA là 925.000 đồng (tiền cá cược là 500.000, tiền thắng là 425.000 đồng). Số tiền dùng vào việc đánh bạc giữa Đ và C trận Bỉ - Hà Lan là 2.500.000 đồng.

Như vậy trong trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA, bị cáo Võ Hồng C đã nhận cá cược với bị cáo Nguyễn Ngọc S cùng Hồ Văn Đ, Nguyễn Thiện T tổng cộng 7.500.000 đồng, số tiền S, T, Đ thắng cá cược là 3.850.000 đồng nên tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của C với S, Đ, T là 11.350.000 đồng và hưởng lợi 5% tỷ lệ cá cược, được 25.000 đồng. Do đó, số tiền Võ Hồng C phải chịu trách nhiệm khi cá cược với S, Đ, T là 11.375.000 đồng. Nguyễn Ngoc S phải chịu trách nhiệm với số tiền 6.650.000 đồng, Nguyễn Thiện T phải chịu trách nhiệm với số tiền 3.775.000 đồng, Hồ Văn Đ phải chịu trách nhiệm là 925.000 đồng.

- Trong tổng số tiền C cá cược với S, Đ, T có một phần được C chuyển cho Huỳnh Thanh P. Sau khi nhận cá cược với S, Đ, Thanh, C đã chuyển 5.000.000 đồng tiền cược cho Phong, giữ nguyên kèo đã cá cược với S, Đ, T. Cụ thể: Chương bắt đội UKRAINE đá nguyên trận chấp nữa trái ăn 85% số tiền là 2.000.000 đồng, kết quả thắng 1.700.000 đồng; tài nguyên trận bắt đội UKRAINE ăn 95% số tiền 500.000 đồng, kết quả thắng 475.000 đồng; hiệp 2 bắt đội UKRAINE chấp nữa trái ăn 95% số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thua; hiệp 2 bắt tài đội UKRAINE ăn 95% số tiền là 500.000 đồng, kết quả thua. Như vậy tổng số tiền Huỳnh Thanh P dùng đánh bạc với Võ Hồng C là 7.175.000 đồng (tiền cược 5.000.000 đồng, tiền thắng 2.175.000 đồng)

- Nguyễn Tấn C cá cược với Huỳnh Thanh P: C bắt đội UKRAINE đá nguyên trận chấp nữa trái ăn 85% số tiền là 1.000.000 đồng, kết quả UKRAINE thắng nên C thắng P 850.000 đồng. Hiệp 2 C bắt đội UKRAINE chấp nữa trái ăn 95% số tiền 1.000.000 đồng, kết quả hiệp 2 UKRAINE thua 0 – 1 Bắc MACEDONIA nên C thua. Cũng trong hiệp 2 C bắt xỉu đội UKRAINE, ăn 95% cược 1.000.000 đồng, kết quả thắng được 950.000 đồng. Như vậy, số tiền cùng dùng vào việc đánh bạc giữa Huỳnh Thanh P và Nguyễn Tấn C là 4.800.000 đồng (tiền cược là 3.000.000 đồng, tiền thắng cược 1.800.000 đồng)

Như vậy, trong trậ ông n UKRAINE và Bắc MACEDONIA Huỳnh Thanh P nhận cược của Nguyễn Tấn C và Võ Hồng C là 8.000.000 đồng, tiền C và C thắng cược là 3.975.000 đồng. Tổng số tiền P dùng đánh bạc với C và C là 11.975.000 đồng, trong đó P thu lợi bất chính số tiền là 325.000 đồng từ kèo cá cược với C từ chênh lệch tiền thắng, thua. P phải chịu trách nhiệm khi cá cược với C, C là 11.975.000 đồng. Số tiền C phải chịu trách nhiệm khi cá cược với P là 4.800.000 đồng.

- Đối với số tiền đưa vào đánh bạc của Nguyễn Thiện T, có một phần của Phạm Trọng H, Hồ Văn Đ, cụ thể: Thanh chia lại cho H 800.000 đồng kèo cá cược của T và C trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA, T chia lại cho Đ 800.000 đồng kèo cá cược của T và C trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA, kết quả H, Đ đều thắng được 425.000 đồng trong phần thắng của T. Như vậy, số tiền Phạm Trọng H dùng đánh bạc là 1.225.000 đồng (tiền cược 800.000 đồng, tiền thắng 425.000 đồng); số tiền Hồ Văn Đ dùng đánh bạc là 1.225.000 đồng (tiền cược 800.000 đồng, tiền thắng 425.000 đồng). Tổng cộng trong trận UKRAINE và Bắc MACEDONIA số tiền Đ đã dùng vào việc đánh bạc là 2.150.000 đồng.

- Nguyễn Văn B, và Lê Văn T, mỗi người dùng 100.000 đồng cá cược; kết quả mỗi người thắng 85.000 đồng; tổng số tiền mỗi người dùng đánh bạc là 185.000 đồng.

- Phan Văn L và Nguyễn Hữu T chỉ đến xem đá bóng chứ không có tham gia cá cược với ai.

Ngày 09/5/2022, Công an huyện Bình Đại đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Thiện T, Phạm Trọng H, Nguyễn Văn B, Lê Văn T về hành vi đánh bạc, do số tiền dùng vào việc đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng và không có tiền án, tiền sự gì về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Riêng đối với Hồ Văn Đ thì xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, đồng thời buộc tịch thu số tiền 2.500.000 đồng mà Đ cá cược với C trong trận Bỉ - Hà Lan.

Ngày 10/5/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bình Đại đã xử lý giao trả tiền và tài sản không dùng vào việc đánh bạc. Cụ thề:

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, số tiền 224.000 đồng cho Phan Văn L, đây là tài sản cá nhân của L không liên quan đến vụ án

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu hồng, 01 xe mô tô biển số 71K4 – 1409 cho Nguyễn Hữu T, đây là tài sản cá nhân của T không liên quan đến vụ án

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, 01 xe mô tô biển số 63S8 – 4127, số tiền 3.180.000 đồng cho Nguyễn Văn B, đây là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn Bế, không dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, 01 xe mô tô biển số 71C1 – 025.54, số tiền 3.834.000 đồng cho Lê Văn Tòng, đây là tài sản cá nhân của T, không dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại 1.035.000 đồng cho Phạm Trong H, đây là tiền cá nhân của H, không dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại 1.035.000 đồng cho Nguyễn Tấn C, đây là tiền cá nhân của C, không dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại 01 xe mô tô biển số 71S2 – 6645 cho Nguyễn Ngọc S, đây là tài sản của gia đình S, không dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại 15.809.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 71C1 – 132.19 cho Nguyễn Thiện T, đây là tài sản cá nhân của T không dùng vào việc đánh bạc.

Như vậy, do động cơ tư lợi nên các bị cáo Huỳnh Thanh P, Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và một số đối tượng khác đã tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trong trận đấu giữa 02 đội UKRAINE và Bắc MACEDONIA. Tổng số tiền bị cáo Huỳnh Thanh P dùng vào việc đánh bạc với Nguyễn Tấn C và bị cáo Võ Hổng C là 11.975.000 đồng, số tiền bị cáo Võ Hồng C dùng vào việc đánh bạc với bị cáo Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Thiện T, Hồ Văn Đ là 11.375.000 đồng, số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc S dùng vào việc đánh bạc với bị cáo Võ Hồng C là 6.650.000 đồng. Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các biên bản lời khai, tang vật thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả kiểm tra tin nhắn điện thoại và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Tại Bàn Cáo trạng số 16/CT-VKSBĐ ngày 10/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã truy tố các bị cáo Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P về tội: “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa sơ thẩm các bị cáo Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại đã truy tố và vật chứng đã thu thập. Các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

- Về tội danh và hình phạt chính:

+ Đối với bị cáo Huỳnh Thanh P (PC): Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P (PC) từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”.

+ Đối với bị cáo Võ Hồng C (N): Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hồng C (N) từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”.

+ Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”.

- Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bồ sung.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 104, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc:

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của bị cáo Võ Hồng C, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng của bị cáo Huỳnh Thanh P, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen có số IMEI: 358625104424900 và số IMEI: 358625104424918 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn Đ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh có số IMEI: 354402/10/241054/5 và số IMEI: 354403/10/241054/3 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn C; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám có số IMEI: 355352101159091 và 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY TAB E màu trắng (có thể gắn sim, chức năng nghe gọi như điện thoại di động) số IMEI: 359594/06/103829/4 của Nguyễn Thiện T. Vì đây là công cụ phạm tội trong việc đánh bạc.

- 4.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 900.000 đồng của Nguyễn Thiện T, 3.000.000 đồng của Nguyễn Tấn C, 1.300.000 đồng của Hồ Văn Đ, 600.000 đồng của Phạm Trọng H, 100.000 đồng của Lê Văn T và 100.000 đồng của Nguyễn Văn B. Tổng cộng là 10.500.000 đồng vì đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc mà có.

+ Tịch thu lưu giữ vào hồ sơ vụ án 06 tờ giấy lịch được đánh số thứ tự từ 01 đến 06 vì đây là tài liệu có ghi chép liên quan đến việc đánh bạc, là chứng cứ mà Nguyễn Thiện T giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại. - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện T số tiền 1.600.000 đồng vì số tiền này không có dùng vào việc đánh bạc.

+ Buộc bị cáo Huỳnh Thanh P phải nộp số tiền 3.975.000 đồng và bị cáo Võ Hồng C số tiền 1.700.000 đồng đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với các tài sản, đồ vật và tiền được tạm giữ trong quá trình điều tra, không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phan Văn L, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Văn B, Lê Văn T, Phạm Trọng H, Nguyễn Tấn C theo các biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/5/2022 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Thiện T, Hồ Văn Đ, Phạm Trọng H, Nguyễn Văn B, Lê Văn T là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hành vi tham gia đánh bạc là dùng số tiền vào đánh bạc của mỗi người ở mỗi trận đấu đều dưới 5.000.000 đồng. Tất cả đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, cơ Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là phù hợp.

Các bị cáo P, C và S nói lời sau cùng: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tiền cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Bình Đại, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản sự việc, tang vật thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả kiểm tra tin nhắn điện thoại và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án hình sự, có đủ sơ sở xác định các bị cáo P, Cg và S do động cơ tư lợi nên các bị cáo Huỳnh Thanh P, Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và một số đối tượng khác đã tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trong trận đấu giữa 02 đội UKRAINE và Bắc MACEDONIA. Tổng số tiền bị cáo Huỳnh Thanh P dùng vào việc đánh bạc với Nguyễn Tấn C và bị cáo Võ Hổng C là 11.975.000 đồng, số tiền bị cáo Võ Hồng C dùng vào việc đánh bạc với bị cáo Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Thiện T, Hồ Văn Đ là 11.375.000 đồng, số tiền bị cáo Nguyễn Ngọc S dùng vào việc đánh bạc với bị cáo Võ Hồng C là 6.650.000 đồng thì bị lực lượng Công an lập biên bản sự việc cùng tang vật.

Các bị cáo Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều nhận thức rõ hành vi đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm. Nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá để thu lợi bất chính. Vì vậy, Cáo trạng số 16/CT-VKSBĐ ngày 1/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã truy tố các bị cáo P, C và S về tội: “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn các bị cáo cư trú và thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguyên nhân dẫn đến những tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quẩn chúng nhân dân.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng tham gia đánh bạc, bị cáo Huỳnh Thanh P, Võ Hồng C với vai trò là chủ cá độ, Nguyễn Ngọc S là người chơi cá độ.

- Về nhân thân:

Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Huỳnh Thanh P ,Võ Hồng C có 02 tình tiết giảm nhẹ được hưởng là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc S có 03 tình tiết giảm nhẹ được hưởng là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và bản thân bị cáo S được Ủy ban kiểm tra Trung ương tặng Kỷ niệm chương về công tác kiểm tra của Đảng, được Bộ Quốc Phòng tặng Kỷ niệm chương về xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, được Ủy ban nhân dân xã T tặng Giấy khen về đóng góp quá trình xây dựng và phát triển xã năm 2019 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra, thấy hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội không lớn. Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhiều tỉnh tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên xử phạt các bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ sức giáo dục, răn đe các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bồ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 104; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen có số IMEI: 351816/10/239528/6 và số IMEI: 351817/10/239528/4 của bị cáo Nguyễn Ngọc S.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số IMEI 1:353149119649034 và số IMEI 2:353149119826723 của bị cáo Võ Hồng C.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có số IMEI 1:356357/05/225175/5 và số IMEI 2: 356357/05/225176/3 của bị cáo Huỳnh Thanh P,

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen có số IMEI: 358625104424900 và số IMEI: 358625104424918 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Văn Đ.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh có số IMEI: 354402/10/241054/5 và số IMEI: 354403/10/241054/3 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn C.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám có số IMEI: 355352101159091, 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY TAB E màu trắng (có thể gắn sim, chức năng nghe gọi như điện thoại di động) số IMEI: 359594/06/103829/4 của Nguyễn Thiện T.

Vì đây là công cụ phạm tội trong việc đánh bạc.

+ 4.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 900.000 đồng của Nguyễn Thiện T, 3.000.000 đồng của Nguyễn Tấn C, 1.300.000 đồng của Hồ Văn Đ, 600.000 đồng của Phạm Trọng H, 100.000 đồng của Lê Văn T và 100.000 đồng của Nguyễn Văn B. Tổng cộng là 10.500.000 đồng vì đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc mà có.

+ Tịch thu lưu giữ vào hồ sơ vụ án 06 tờ giấy lịch được đánh số thứ tự từ 01 đến 06 vì đây là tài liệu có ghi chép liên quan đến việc đánh bạc, là chứng cứ mà Nguyễn Thiện T giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại. - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện T số tiền 1.600.000 đồng vì số tiền này không có dùng vào việc đánh bạc.

- Buộc bị cáo Huỳnh Thanh P phải nộp số tiền 3.975.000 đồng và bị cáo Võ Hồng C phải nộp số tiền 1.700.000 đồng, đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại đã trao trả lại các tài sản, đồ vật và tiền được tạm giữ trong quá trình điều tra, không dùng vào việc đánh bạc cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phan Văn L, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Văn B, Lê Văn T, Phạm Trọng H, Nguyễn Tấn C theo các biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/5/2022 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Tấn C, Nguyễn Thiện T, Hồ Văn Đ, Phạm Trọng H, Nguyễn Văn B, Lê Văn T là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hành vi tham gia đánh bạc là dùng số tiền vào đánh bạc của mỗi người ở mỗi trận đấu đều dưới 5.000.000 đồng. Tất cả đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, cơ Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là phù hợp.

Lời phát biểu luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên Tòa sơ thẩm về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo P, C và S, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt để nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo P, C và S phải chịu án phí theo quy định của án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ Hồng C (N), Nguyễn Ngọc S và Huỳnh Thanh P (PC) phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh P (PC) số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) là hình phạt chính.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Hồng C (N) số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) là hình phạt chính.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là hình phạt chính.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4. Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sồ 17, 18, 19/HSST-LCĐKNCT ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Võ Hồng C (N) và Huỳnh Thanh P (PC). .

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 104; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen có số IMEI: 351816/10/239528/6 và số IMEI: 351817/10/239528/4 của bị cáo Nguyễn Ngọc S.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số IMEI 1:353149119649034 và số IMEI 2:353149119826723 của bị cáo Võ Hồng C.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng có số IMEI 1:356357/05/225175/5 và số IMEI 2: 356357/05/225176/3 của bị cáo Huỳnh Thanh P,

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen có số IMEI: 358625104424900 và số IMEI: 358625104424918 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Văn Đ.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh có số IMEI: 354402/10/241054/5 và số IMEI: 354403/10/241054/3 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn C.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám có số IMEI: 355352101159091, 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY TAB E màu trắng (có thể gắn sim, chức năng nghe gọi như điện thoại di động) số IMEI: 359594/06/103829/4 của Nguyễn Thiện T.

+ 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) của Nguyễn Thiện T, 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) của Nguyễn Tấn C, 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) của Hồ Văn Đ, 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) của Phạm Trọng H, 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) của Lê Văn T và 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) của Nguyễn Văn B. Tổng cộng là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm nghìn đồng).

- Tịch thu lưu giữ vào hồ sơ vụ án 06 tờ giấy lịch được đánh số thứ tự từ 01 đến 06 vì đây là tài liệu có ghi chép liên quan đến việc đánh bạc, là chứng cứ mà Nguyễn Thiện Thanh giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Đại.

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện T số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo Huỳnh Thanh P phải nộp số tiền 3.975.000 đồng (Ba triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và bị cáo Võ Hồng C phải nộp số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bày trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trao trả lại các tài sản, đồ vật và tiền được tạm giữ trong quá trình điều tra, không dùng vào việc đánh bạc cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phan Văn L, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Văn B, Lê Văn T, Phạm Trọng H, Nguyễn Tấn C theo các biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/5/2022 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/6/2022 hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tình Bến Tre đang quản lý)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Thanh P, Võ Hồng C, Nguyễn Ngọc S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ