- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Van C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HS-PT Ngày 21-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Bé
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Năm
Bà Lê Thị Mỹ Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 10/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Văn C, sinh ngày 16/05/1994 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Đồng Nhơn Nam, xã TĐ, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Phạm Thị H; có vợ là Đặng Thị Hiếu H và có 01 con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05 tháng 9 năm 2022 đến nay; bị cáo đang giam, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Phạm Văn C: Bà Trần Thị H – Luật sư Văn phòng Luật sư CA, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Số 44 LVS, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04 tháng 10 năm 2021, Phạm Văn C, Huỳnh Tấn Đ đến nhà Nguyễn Thanh D ở thôn Thượng Hòa, xã BĐ, huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi để uống bia. Tại đây, Phạm Văn C uống khoảng 02 lon bia và Huỳnh Tấn Đ uống khoảng 05 - 06 lon bia rồi ngồi nói chuyện, không uống nữa. Huỳnh Tấn Đ có biểu hiện say bia, đứng không vững nên không thể điều khiển xe để về nhà. Thấy mình còn tỉnh táo nên Phạm Văn C nói với Huỳnh Tấn Đ để mình điều khiển xe chở về, vì nhà C và Đ đều ở cùng thôn, hàng ngày C đi làm cùng xe máy với Đ, thì Đ đồng ý và giao xe mô tô biển kiểm soát 76D1-487.xx cho Phạm Văn C điều khiển. Phạm Văn C điều khiển xe chạy được khoảng 10 phút thì Huỳnh Tấn Đ ngồi sau và tựa vào lưng Phạm Văn C ngủ. Đến khoảng 21 giờ 10 phút, khi đang điều khiển xe lưu thông theo hướng Đông - Tây đến Km38 + 200m Quốc lộ 24B thuộc địa phận thôn Đồng Nhơn Nam, xã TĐ, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi thì Phạm Văn C chuyển hướng sang phần đường phía Nam nhằm quay xe lại đi vào đường nhánh phía Nam Quốc lộ 24B để về nhà mình. Phạm Văn C không bật đèn xi nhan báo chuyển hướng trái, chỉ quan sát phía sau rồi đồng thời chuyển hướng mà không quan sát các phương tiện phía trước đang lưu thông ngược chiều. Khi Phạm Văn C đã chuyển hướng vào phần đường phía Nam Quốc Lộ 24B thì phát hiện Lê Tấn D đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76T8-92xx lưu thông ngược chiều theo hướng Tây - Đông trên phần đường phía Nam nên Phạm Văn C liền đánh lái sang phải để tránh va chạm, nhưng lúc này khoảng cách giữa hai xe quá gần nên không tránh kịp, dẫn đến hai phương tiện va chạm vào nhau, hậu quả Lê Tấn D bị thương được đưa đi cấp cứu sau đó chết, Phạm Văn C và Huỳnh Tấn Đ bị thương.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có trục đường theo phương Đông - Tây, lòng đường rộng 7,6m, đường được trải bê tông tương đối bằng phẳng, có lề cỏ và ruộng lúa hai bên đường, phía tây là đường cong, lưng cong quay về phía Nam. Nơi xảy ra tai nạn có mương cống bằng bê tông ngang qua đường, giữa đường có sơn đứt quãng phân chia đường thành hai chiều riêng biệt.
Chọn trụ bê tông ở góc Đông Nam của mương cống làm mốc (Ký hiệu H). Chọn mép đường phía Nam để làm chuẩn đo đạc. Cách H về phía Đông Bắc 180cm và cách mép đường phía Nam 160cm về phía Bắc là vị trí đầu Tây Bắc vết cày xước (Ký hiệu V1), V1 có dạng đứt quãng, hình gần thẳng, dài 360cm, rộng 1,5cm. Trên bề mặt V1 bụi, đá bị đẩy dùa từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Đầu Đông Nam cách mép đường phía Nam 45cm. Cách đầu Đông Nam của V1 về phía Đông Nam 220cm và cách mép đường phía Nam 135cm về hướng Nam là vị trí hình chiếu tâm trục bánh sau của xe mô tô biển kiểm soát 76T8-92xx xuống mặt đường. Xe này đang trong tình trạng ngã nghiêng bên phải, phần đầu xe quay về hướng Đông Bắc, đuôi xe quay về hướng Tây Nam, xe mô tô nằm trên bờ ruộng phía Nam đường, hình chiếu tâm trục bánh trước cách mép đường phía Nam 115cm về hướng Nam. Cách đầu Tây Bắc của V1 về phía Tây Bắc 605cm và cách mép đường phía Nam 340cm về phía Bắc là vị trí đầu Đông Nam của vết cày xước mặt đường (Ký hiệu V2). V2 dài 480cm; rộng 1,5cm. Trên bề mặt V2, bụi, đá bị đẩy dùa từ Đông Nam lên Tây Bắc. Đầu Tây Bắc cách mép đường phía Nam về hướng Bắc 355cm, cách đầu Tây Bắc của V2 về phía Tây Bắc 95cm và cách mép đường phía Nam 410cm về phía Bắc là vị trí đầu Đông Nam của vết cày xước mặt đường (Ký hiệu V3). V3 dài 60cm, rộng 0,5cm. Trên bề mặt V3 bụi, đá bị đẩy dùa từ Đông Nam lên Tây Bắc. Đầu Tây Bắc cách mép đường phía Nam về phía Bắc 420cm.
Kết quả khám xe:
Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô 76T8-92xx chuyển động theo hướng Tây xuống Đông, xe mô tô 76D1-487.xx đang chuyển động ngược chiều theo hướng từ Đông lên Tây.
Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô 76D1-487.xx với xe mô tô 76T8-92xx là phuộc nhún trước bên trái xe mô tô 76T8-92xx (tạo ra dấu vết trầy xước khuyết kim loại tại mặt ngoài đầu dưới phuộc nhún bên trái bánh trước và ốc cố định phuộc nhún) với phuộc nhún bên trái xe mô tô 76D1-487.xx (tạo ra dấu vết chà xướt khuyết kim loại tại ốc trục bên trái bánh trước).
Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa hai phương tiện là khu vực mặt đường giữa đầu Tây Bắc dấu vết cày xướt mặt đường ký hiệu V1 với đầu Đông Nam dấu vết cày xướt mặt đường ký hiệu V2, thuộc làn đường phía Nam, Quốc lộ 24B.
Tại bản tóm tắt hồ sơ bệnh án số 875/BVĐN-KHTH ngày 07/12/2021 của Bệnh viện Đà Nẵng, kết luận đo nồng độ cồn trong máu kết quả Ethanol của bị cáo Phạm Văn C là 33,5 mmol/L. Theo Quyết định số 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 của Bộ Y tế về việc ban hành “quy định về đo nồng độ cồn (Etanol) trong máu” áp dụng trong các bệnh viện, quy định hệ số chuyển đổi mmol/L x 4,608 = mg/100mL, như vậy nồng độ cồn trong máu của bị cáo là 154,368mg/100mL (33,5 mmol/L x 4,608).
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận xong tiền bồi thường thiệt hại, có đơn không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HS-ST ngày 10/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/9/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của luật.
Ngày 15/9/2022, bị cáo Phạm Văn C có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 23/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 368/QĐ-VKSST với nội dung kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn C.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn C giữ nguyên kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên kháng nghị số: 368/QĐ-VKSST ngày 23/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn C thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có bà nội (Bà Võ Thị Đ) là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình bị cáo khó khăn có thể được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù xem xét các tình tiết trên để áp dụng khoản 2 Điều 51 hay không là tùy thuộc vào ý chí của cơ quan tiến hành tố tụng, tuy nhiên nên áp dụng để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là gây bất lợi cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST và kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn C: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã gây ra hậu quả bị hại chết là mất mát cho gia đình bị hại, tuy nhiên hiện nay bị cáo đã ăn năn, hối lỗi về hành vi của mình. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Xét nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong vụ án này, bị cáo là người có lỗi chính, tuy nhiên bị hại cũng có một phần lỗi. Đoạn đường xảy ra tai nạn không có đèn đường, trời tối, xe của bị hại không có đèn chiếu sáng dẫn đến bị cáo không quan sát được phương tiện lưu thông đến; bị hại chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô từ 50 cm3 trở lên, không có giấy phép lái xe theo quy định. Bị cáo có bác là liệt sĩ, bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo bị bệnh, mẹ bị cáo không còn khả năng lao động, vợ bị cáo đã bỏ đi từ 2017, bị cáo còn phải một mình nuôi con mới 07 tuổi được Ủy ban nhân nhân xã TĐ, huyện ST xác nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo C và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C dưới mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đề nghị cũng đủ răn đe, giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 04/10/2021, Phạm Văn C mặc dù không có giấy phép lái xe và đã sử dụng bia nên có nồng độ cồn trong máu đạt 154,368mg/100mL nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76D1-487.xx chở Huỳnh Tấn Đ lưu thông trên đường Quốc lộ 24B theo hướng từ Đông lên Tây. Khi đi đến Km38 + 200m thuộc địa phận thôn Đồng Nhơn Nam, xã TĐ, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi thì chuyển hướng sang phần đường phía Nam nhưng không bật đèn xi nhan báo chuyển hướng trái và không quan sát kỹ khi chuyển hướng nên đã va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 76T8-92xx do Lê Tấn D điều khiển lưu thông ngược chiều. Lỗi để xảy ra tai nạn thuộc về bị cáo, hậu quả Lê Tấn D bị thương được đưa đi cấp cứu sau đó chết, Phạm Văn C và Huỳnh Tấn Đ bị thương.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn C điều khiển xe chở theo Huỳnh Tấn Đ chuyển hướng không chú ý quan sát các phương tiện lưu thông ngược chiều, không có tín hiệu báo rẽ, dẫn đến va chạm với xe mô tô 76T8-92xx do anh Lê Tấn D điều khiển lưu thông ngược chiều, hậu quả anh Lê Tấn D chết là vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Khi tai nạn xảy ra bị cáo không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 là vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ “Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định” và điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn 154,368mg/100mL máu là vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ “Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu”.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn C và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST thì thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện, tích cực bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; bị cáo có bác Võ Tấn S là liệt sĩ, bà nội Võ Thị Đ được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xét thấy, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng như chính sách nhân đạo của nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ngãi là đúng quy định và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn C được chấp nhận một phần.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 10/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/09/2022.
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Công an, VKSND, TAND, THADS huyện ST; - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ngãi; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Bé |