vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng d ân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn TA được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng d ân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
\

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương.

Bà Tô Thị Thanh Hoa.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn; thư ký TAND thị xã Hoàng Mai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ; Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2022/TLST- HN&GĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐST-HN&GĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn TA, sinh ngày 06/6/1995 (Có mặt).

Địa chỉ: Xóm 7B, thôn YN, xã TH, huyện TT, thành phố HN.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 26/01/1991 (Vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Thôn YN, xã TH, huyện TT, thành phố HN.

Nơi tạm trú: Khối TA, phường QP, thị xã HM, tỉnh NA.

(Hiện đang chấp hành án tại đội 1, k3 trại giam số 6, huyện TC, tỉnh NA).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn TA trình bày:

Anh và bị đơn chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau vào ngày 08/3/2019 có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã TH, huyện TT, thành phố HN trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 4 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn khi xảy ra mâu thuẫn chị H đã bỏ về bên ngoại ở khối TA, phường QP, thị xã HM, NA sinh sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng sống không có tình cảm, chị H là người nghiện ma túy đã bị Tòa án nhân dân thị xã HM xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và hiện đang chấp hành ánh tại trại giam trại giam số 6, huyện TC, tỉnh NA, từ đó đến nay, mâu thuẫn vợ chồng liên tục sâu sắc và ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay. Nay anh xét tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con: Vợ chồng chưa có con chung, không ai có con riêng.

Về tài sản chung, riêng: Vợ chồng anh tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Theo biên bản lấy khai bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn TA kết hôn với nhau vào ngày 08/3/2019 có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã TH, huyện TT, thành phố HN trên cơ sở tự nguyện. Theo chị thì vợ chồng đang sống với nhau hạnh phúc, giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Hiện nay chị đang chấp hành án tại đội 1, k3 trại giam số 6, huyện TC, tỉnh NA. Nay anh Anh xin ly hôn chị thì chị thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị mong anh Anh suy nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ với nhau.

Về con: Vợ chồng chưa có con chung, không ai có con riêng.

Về tài sản chung, riêng: Vợ chồng anh tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HM phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị :

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn TA được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí : Anh Nguyễn TA phải nạp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nạp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn anh Nguyễn TA với bị đơn chị Nguyễn Thị H. Bị đơn chị Nguyễn Thị H trước khi chấp hành án đang sinh sống tạm trú tại khối TA, phường QP, thị xã HM, tỉnh NA. Nên Tòa án nhân dân thị xã HM, tỉnh NA giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị H đang chấp hành án tại đội 1, k3 trại giam số 6, huyện TC, tỉnh NA nên vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên Tòa án nhân dân thị xã HM đã có công văn đề nghị trại giam số 6, huyện TC, tỉnh NA tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Nguyễn Thị H. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của BLTTDS quyết định xét xử vắng mặt đối với chị H. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn TA, chị Nguyễn Thị H lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 08/3/2019 tại UBND xã TH, huyện TT, thành phố HN trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống không có tình cảm, mâu thuẫn liên tục sâu sắc và ngày càng trầm trọng hơn. Hai bên đã chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau, bản thân anh Anh, chị H trước khi đi chấp hành án đã sống ly thân và không còn liên lạc hỏi han, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chứng tỏ vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau nữa. Anh Anh xin ly hôn chị H, chị H không thống nhất ly hôn mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được,vợ chồng sống ly thân cũng đã lâu nên không thể đoàn tụ được với nhau. Ngoài ra qua xác minh tại địa phương thì giữa anh Anh và chị H trong cuộc sống hôn nhân cũng có xảy ra mâu thuẫ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn TA được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, và nợ: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn TA phải nạp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Anh đã nạp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng d ân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn TA được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nhưng để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nếu sau này có căn cứ, có yêu cầu thì các bên đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án Dân sự khác.

Về án phí: Anh Nguyễn TA phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã HM, tỉnh NA theo biên lai thu tiền số 0003477 ngày 12/5/2022.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh NA trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh NA trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ