- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lầu Thị H về việc xin Ly hôn, nuôi con chung.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST Ngày 23 - 5 -2022 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Bình Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Thân 2. Ông Nguyễn Văn Phiến
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Giàng Chẩn Sồ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2022/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022, về việc: Ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022, QĐ hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST ngày 29/4/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lầu Thị H; địa chỉ: Tổ 01, phường M, TP.H, tỉnh Hà Giang, có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Đình D; địa chỉ: Tổ 17, phường T, TP.H, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn xin ly hôn ngày 15/12/2021; bản tự khai ngày 15/01/2022 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Lầu Thị H khai, chị và anh Lê Đình D kết hôn ngày 21/12/2012, đăng ký kết hôn tại UBND phường T , TP.H, tỉnh Hà Giang, do tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên chưa thực sự hiểu nhau, nên thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, anh D không quan tâm đến chị và con chung, anh, chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn anh Lê Đình D không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án, nên không có ý kiến về quan hệ hôn nhân và nuôi con chung.
- Về con chung: Chị H khai chị và anh Diệu có một con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 16/01/2013. Ly hôn chị H xin được nuôi dưỡng cháu T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung, công nợ chung: Không có.
Quá trình Tòa án giải quyết: Do anh D không đến Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thực hiện được việc hòa giải.
* Tại phiên toà: Chị H giữ nguyên quan điểm về việc ly hôn và việc nuôi con chung; tài sản chung, công nợ chung không yêu cầu giải quyết.
* Quan điểm của Đại diện VKS thành phố H, tỉnh Hà Giang:
- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong qúa trình giải quyết vụ án. Xác minh thu thập chứ cứ đầy đủ, thông báo cho Viện Kiểm sát về việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng pháp luật, thủ tục bắt đầu phiên tòa được Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 239 BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, các tài liệu do đương sự cung cấp phù hợp với quy định của pháp tại Điều 70, Điều 71, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lầu Thị H được ly hôn với anh Lê Đình D.
+ Về con chung: Giao cho chị Lầu Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Anh T, sinh ngày 16/01/2013 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Anh Lê Đình D không không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
+ Án phí: Chị Lầu Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Lầu Thị H và anh Lê Đình D có địa chỉ: Tổ 17, phường T, thành phố H, theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
[ 2]. Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình các đương sự yêu cầu giải quyết về Ly hôn, nuôi con chung. Như vậy, đủ căn cứ xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về nội dung vụ án: Chị Lầu Thị H và anh Lê Đình D và anh đăng ký kết hôn ngày 21/12/2012, tại UBND phường T, thành phố H, do tự nguyện. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp.
. Lý do chị Lầu Thị H xin ly hôn: Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không cải thiện được được tình cảm, hiện nay đã sống ly thân từ năm 2017. Do vậy, chị H xin được ly hôn với anh D.
. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị Lầu Thị H là phù hợp, bởi lẽ: Trong quá trình vợ chồng chung sống, chị H và anh D không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau, không cải thiện được tình cảm. Nguyên nhân do tình tình không hợp, anh D không quan tâm đến vợ con, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Theo quy định tại Điều 19- Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”, nhưng quan hệ hôn nhân của hai anh chị không có sự quan tâm, chia sẻ chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Theo biên bản ý kiến của Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình và trẻ em ngày 04/4/2022; đã xác định được cuộc hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, sống ly thân, nếu cứ tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì cuộc sống của anh chị cũng không có hạnh phúc, mục đích cuộc hôn nhân không đạt đựơc. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại điều 56 - Luật HN&GĐ, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh D.
. Về con chung: Chị Lầu Thị Hỷ và anh Lê Đình D có một con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 16/01/2013, ly hôn chị H xin được nuôi dưỡng cháu T. Theo các chứng cứ chị Hỷ cung cấp thấy rằng hiện tại chị Hỷ có việc làm và có thu nhập ổn định, có chỗ ở đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của cháu Anh T cũng muốn được ở cùng với mẹ. Vì vậy, yêu cầu xin nuôi con của chị H là phù hợp nên chấp nhận, giao cháu Lê Anh T, sinh ngày 16/01/2013 cho chị Hỷ trực tiếp chăm sóc giáo dục. Do anh D không có ý kiến về việc nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
. về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên không giải quyết
. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí lệ phí Tòa án, chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lầu Thị H về việc xin Ly hôn, nuôi con chung.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lầu Thị H được ly hôn anh Lê Đình D.
3. Về con chung: Giao cho chị Lầu Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Anh T, sinh ngày 16/01/2013, cho đến khi cháu Thư đủ 18 tuổi. Anh Lê Đình D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền nghĩa vụ chăm sóc con chung.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung là không cố định
4. Tài sản chung, công nợ chung: Không có.
5. Về Án phí: Chị Lầu Thị H phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn 300.000đ được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hà Giang biên lai số 0000638 ngày 12 tháng 01 năm 2022.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh HG; - VKSND TP. H; - Các đương sự; - CC THADS TP. H; - UBND phường T.TPH; - Lưu HS; - Lưu bộ phận. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thanh Bình |