vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 06/06/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D.

Bà Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với ông Huang Yu H. Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 22-8-2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Nguyễn Ngọc D và ông Huang Yu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 6 - 2022
V/v tranh chấp “hôn nhân
và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;

2. Bà Lê Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HN ngày 17-5-2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 2000; nơi cư trú: số nhà 243, ấp Trung P, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Huang Yu H, sinh năm 1974; nơi cư trú: số 3, hẻm 126, đường An Tường, khóm 009, phường P, thị trấn L, huyện C, Đài Loan, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện; bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Huang Yu H do mai mối rồi tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 22-8-2019. Sau khi kết hôn, do ông Huang Yu Hsian bận công việc làm ăn, không về Việt Nam thường xuyên, cộng với sự khác biệt về ngôn ngữ nên bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Huang Yu H ngày càng nhiều mâu thuẫn. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không hòa hợp được. Nay bà Nguyễn Thị Ngọc D làm đơn khởi kiện ly hôn với ông Huang Yu H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 04-3-2022, bị đơn ông Huang Yu H trình bày điều kiện, thời gian đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn như trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D. Ông Huang Yu H đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc D. Vợ chồng không có con chung và cũng không có tài sản chung.

Ông Huang Yu H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 04-3-2022 (đã được hợp pháp hóa lãnh sự).

Ngày 27-4-2022, bà D có đơn yêu cầu không hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Huang Yu H, sinh năm 1974 có nơi cư trú tại huyện Chương Hóa, Đài Loan, nguyên đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Huang Yu H có quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 22-8-2019 nên xác định hôn nhân.

Nguyên đơn khởi kiện ly hôn và trình bày: sau khi kết hôn, ông Huang Yu H do bận công việc làm ăn, không về Việt Nam thường xuyên, cộng với sự khác biệt về ngôn ngữ nên bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Huang Yu H ngày càng nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không thể hòa hợp được.

Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện ly hôn và bị đơn có văn bản đồng ý.

Xét, vợ chồng do xảy ra mâu thuẫn dẫn đến bất hòa và không thể tiếp tục sống chung, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung, các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.

Về chi phí tố tụng: Không có.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D.

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với ông Huang Yu H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 97 ngày 22-8-2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000110 ngày 27-4-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Ngọc D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Ngọc D có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Thời hạn kháng cáo của ông Huang Yu H là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ