vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi con Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Lê Thị L nộp 150.000 đồng án phí ly hôn và đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị L- Vũ Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi con Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 3 - 2022
V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Giao;

Ông Nguyễn Văn Bốn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 147/2021/ TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L; sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định; có mặt.

Bị đơn: Anh Vũ Văn Th, sinh năm 1987; nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Th tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã B, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19- 01- 2017. Vợ chồng sống không có hạnh phúc, cuộc sống có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9 năm 2021. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không có cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Th

Về việc nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017. Hiện đang ở cùng anh Th, chị nhiều lần đề nghị với anh Th về việc chị trực tiếp nuôi con nhưng anh Th không chấp nhận. Khi ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi con chung, không đề nghị anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.

Tại bản tự khai, lời khai khác tại Tòa án, bị đơn là anh Vũ Văn Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về việc kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Chị L đã bỏ về nhà bỏ mẹ đẻ ở từ tháng 9 năm 2021, anh cũng đã đi tìm về nhưng chị L không về. Nay chị L xin ly hôn anh thấy tình cảm vợ chồng không còn anh nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh nhận trực tiếp nuôi con chung Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017; anh không đề nghị chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh không đề nghị Toà án giải quyết.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy; Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như các đương sự trình bày là đúng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao con chung Vũ Minh A cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi con dưỡng, anh Vũ Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th không có hạnh phúc, đã sống ly thân. Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L xin ly hôn, anh Th nhất trí nên căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th.

Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Xác định vợ chồng chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th có 01 con chung là Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017. Chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th đều có nguyện vọng và điều kiện nuôi con nhưng do cháu Vũ Minh A còn nhỏ, để đảm bảo quyền của phụ nữ và trẻ em, Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Minh A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị Lê Thị L nhận tự nguyện nộp án phí ly hôn 150.000 đồng nên được chấp nhận.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Vũ Văn Th.

2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi con Vũ Minh A, sinh ngày 27-11-2017. Anh Vũ Văn Th có trách nhiệm giao cháu Vũ Minh A cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; anh Vũ Văn Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Lê Thị L nộp 150.000 đồng án phí ly hôn và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000026 ngày 30- 11- 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Hoàn trả cho chị Lê Thị L 150.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ