- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Lương Niê - Y Ri Kbuôr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Lương N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Bản án số:14/2022/HNGĐ-ST Ngày 02-6-2022. “V/v: Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C –TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Bà Nguyễn Thị Hoài Bão
2. Ông Nguyễn Đăng Lân.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Đuống – thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:32/2022/HNGĐ, ngày 26/01/2022, về việc: “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2022/QĐXX-ST, ngày 21/4/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị H Lương N – sinh năm 1989 - Có mặt
Địa chỉ: Buôn W, xã Ea K, huyện C, tỉnh Đ.
2. Bị đơn: Anh Y Ri K– sinh năm 1982 - Vắng mặt
Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn: Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị H Lương N trình bày:
Tôi cùng với anh Y Ri K sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân, cũng như được sự đồng ý của hai bên gia đình, họ hàng và tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Chúng tôi có đăng ký kết hôn vào ngày 04/4/2008 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đ.
Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân: Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc không có vấn đề gì. Tuy nhiên khoảng từ năm 2021 trở lại đây, giữa tôi và anh Y Ri Kxảy ra rất nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau, hiện tại anh Y Ri K đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại Buôn T, xã E, huyện C sinh sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, thường bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng sống thiếu tôn trọng nhau, anh Y Ri K thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đánh đập vợ con, đập phá tài sản.
Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Y Ri K.
Về con chung: Chúng tôi có với nhau 02 con chung là Y N, sinh ngày 28/01/2007 và H C, sinh ngày 28/11/2011. Hiện cả 02 cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường về mọi mặt và đang ở với mẹ. Sau khi ly hôn tôi có nguyện vọng xin được nuôi cả 02 con. Tôi không yêu cầu anh Y Ri K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Anh Y Ri K:
Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vụ án được đưa ra xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Y Ri K, nhưng anh Y Ri K không hợp tác, không lên Tòa án để làm việc.Vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh Y Ri K cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
- Đối với Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với HĐXX: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự:
+ Nguyên đơn: Thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70; Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Bị đơn: Không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Lương N và anh Y Ri K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân, anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn, kéo dài mà không có biện pháp hòa giải hay ý thức khắc phục. Vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H Lương N với anh Y Ri K.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Y N, sinh ngày 28/01/2007 và H C, sinh ngày 28/11/2011. Sau khi ly hôn cần giao cả 02 con cho chị H Lương N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, cũng như nguyện vọng của chị H Lương N và 02 cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Lương N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Y Ri K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Y Ri K là phù hợp.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và con chung, các quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định:
Chị H Lương N và anh Y Ri K là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 04/4/2008, tại UBND xã E, huyện C trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân; theo chị H Lương N thì thời gian gần đây anh chị nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, thường bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng sống thiếu tôn trọng nhau, anh Y Ri K thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đánh đập vợ con, đập phá tài sản. Nay chị H Lương N xác định không còn tình cảm vợ chồng, chị không còn thương yêu chồng nữa, mâu thuẫn giữa hai người là rất trầm trọng, kéo dài, không thể khắc phục và hàn gắn, dù có níu kéo cũng chỉ làm khổ nhau.Vì vậy chị H Lương N có nguyện vọng được ly hôn với anh Y Ri K. Qua xác minh tại địa phương cung cấp, anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài, mặc dù trong thời gian xảy ra mâu thuẫn anh chị được hai bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, hiện tại anh chị đã sống ly thân nhau. Nay chị H Lương N có đơn xin ly hôn với anh Y Ri K quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị H Lương N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Y Ri K. Hội đồng xét xử xét thấy; mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là thực tế, rất trầm trọng và kéo dài. Trong thời gian xảy ra mâu thuẫn, mặc dù đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương động viên, hòa giải nhiều lần nhưng anh chị vẫn không có ý thức để hàn gắn, khắc phục và duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H Lương N đối với anh Y Ri K là phù hợp.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Y N, sinh ngày 28/01/2007 và H C, sinh ngày 28/11/2011. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị H Lương N có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cả 02 con. Hội đồng xét xử xét thấy chị H Lương N có nhà ở và có thu nhập ổn định. Vì vậy cần giao cả 02 con cho chị H Lương N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, cũng như nguyện vọng của các con và của chị H Lương N.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Lương N không yêu cầu anh Y Ri K cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H Lương N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Lương N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H Lương N được ly hôn với anh Y Ri K.
Về con chung: Giao 02 cháu Y N, sinh ngày 28/01/2007 và H C, sinh ngày 28/11/2011 cho chị H Lương N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cả 02 trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Lương N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên bố mẹ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Y Ri K được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản quyền này.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H Lương N không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
*Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chị H Lương N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 60AA/2021/0007940, ngày 19/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
* Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện C;
- CC THADS huyện C;
- Các đương sự;
- UBND xã E;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VT.
NGUYỄN QUANG CẢNH
* Nơi nhận:
| THẨM - TAND tỉnh ĐắkLắk; TÒA - VKSND huyện CưM’gar; - CC THADS huyện CưM’gar; - Các đương sự; - UBND xã Ea Kuêh; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Quang Cảnh |