vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Pha L.

Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Pha L được ly hôn với anh sơn Ngọc Ch. Về con chung: Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp vê nuôi con La Chau"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Pha L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/12/2022
“V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Hòa;

Ông Lê Văn Đáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 9 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/11/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Pha L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp Gi, xã Kim H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Sơn Ngọc Ch, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp Gi, xã Kim H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Thạch Thị Pha L trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2003 chị và anh Sơn Ngọc Ch được sự mai mối của hai bên gia đình nên tiến tới hôn nhân và có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới chị và anh Ch mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Kim H, huyện Cầu Ngang, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, đến năm 2014 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cải về lối sống, anh Ch thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập vợ nên sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm không còn. Nên từ đó chị mới làm đơn xin ly hôn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sơn Ngọc Ch.

- Về nuôi con tên: Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008, hiện tại anh Ch đang nuôi dưỡng. Chị Pha L đồng ý để anh Châu tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị không tranh chấp, không khởi kiện.

- Về số nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Sơn Ngọc Ch trình bày: Quá trình xác lập quan hệ hôn nhân như Pha L trình bày là đúng. Thời gian chung sống, đến năm 2014 thì giữa vợ chồng xảy ra cự cải về lối sống. Trong lúc nóng giận thì anh có đánh chị Pha L hai bạc tay nên vợ anh đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2014 cho đến nay, không liên lạc với anh. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn. Anh chỉ đồng ý ly hôn với chị Pha L với điều kiện là tài sản chung của vợ chồng chị Pha L phải để lại cho các con.

- Về nuôi con tên: Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008, hiện tại anh Ch đang nuôi dưỡng. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Mỹ Ng, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Anh không có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nhưng anh yêu cầu để lại cho con anh được quản lý sử dụng. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

- Về số nợ phải thu phải trả của vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Pha L được ly hôn với anh Sơn Ngọc Ch. Về con chung tên Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét và Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008, hiện tại anh Ch đang nuôi dưỡng, cháu Mỹ Ng có nguyện vọng được sống chung với anh Ch và chị L đồng ý để anh Ch tiếp tục nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Châu được tiếp tục nuôi con chung tên Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và số nợ phải thu phải trả chị Pha L và anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét .

- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Thạch Thị Pha L nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

- Phần kiến nghị: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị Pha L khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Sơn Ngọc Ch, địa chỉ: Ấp Gi, xã Kim H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.

Về hôn nhân: Vào năm 2003 chị và anh Ch xác lập hôn nhân, sau khi cưới chị và anh Ch cùng đến Ủy ban nhân dân xã Kim H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh để đăng ký kết hôn theo quy định. Từ đó xác định hôn nhân giữa chị Pha L và anh Ch là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Pha L trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là do không hợp nhau về lối sống, anh Ch thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập chị nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không liên lạc nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết ly hôn với anh Sơn Ngọc Ch.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Ch trình bày: Quá trình chung sống giữa anh và chị Pha L có xảy cự cải về lối sống. Trong lúc nóng giận thì anh có đánh chị Pha L hai bạc tay nên vợ anh đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2014 cho đến nay, không liên lạc với anh. Nay chị Pha L yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn. Anh chỉ đồng ý ly hôn với chị Pha L với điều kiện là tài sản chung của vợ chồng chị Pha L phải để lại cho các con. Xét thấy trong quá trình chung sống, giữa chị Pha L và anh Ch có xảy ra cự cải về lối sống, trong lúc cự cải thì anh Ch có đánh chị Pha L nên chị Pha L đã bỏ nhà đi từ năm 2014 cho đến nay, vợ chồng không liên lạc.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Pha L xác định chị không còn tình cảm với anh Ch, chị cương quyết xin ly hôn với anh Ch. Anh Ch trình bày anh không đồng ý ly hôn với chị Pha L. Anh chỉ đồng ý ly hôn khi chị Pha L để lại tài sản chung cho các con là không có cơ sở để chấp nhận bởi vì từ khi vợ chồng anh, chị sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay thì anh, chị đều bỏ mặt, không quan tâm nhau, không tìm cơ hội để vợ chồng hàn gắn.

Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa chị Pha L và anh Ch là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Pha L, về hôn nhân xử cho chị Thạch Thị Pha L được ly hôn với anh Sơn Ngọc Ch.

Về con chung tên: Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008, hiện tại anh Ch đang nuôi dưỡng và anh Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy thời gian vợ chồng chị Pha L sống ly thân, anh Ch là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, đảm bảo sự phát triển của con. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Ng có nguyện vọng sống với anh Ch và chị Pha L đồng ý để anh Châu tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Ng. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Ch được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Pha L và anh Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị Pha L và anh Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Thạch Thị Pha L phải chịu án phí theo quy định.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Pha L.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Pha L được ly hôn với anh sơn Ngọc Ch.

- Về con chung: Sơn Ngọc T, sinh ngày 02/10/2004 đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Sơn Ngọc Ch được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Sơn Thị Mỹ Ng, sinh ngày 24/12/2008 khi ly hôn.

Chị Thạch Thị Pha L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Pha L và anh Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị Pha L và anh Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị Pha L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Pha L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010974, ngày 22 tháng 9 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Pha L đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ