vanban.org

Bản án 14/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị Th và anh Pha ̣m Văn C là vợ chồng.

Về con chung : Công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n của chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C về viê ̣c giao các con chung tên Phạm Văn T , sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T 1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thị Kim S, sinh ngày 16/8/2017 cho anh Pha ̣m Văn C được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị Th và anh Pha ̣m Văn C là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 14 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 3 – 2022
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: Ông Nguyễn Văn Thiện.

Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Ngô Văn Cườ ng

2.Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: ông Chau Kim Sol – Là Thư ký củaTòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 372/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp Xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 28/02/2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: chị Phạm Ngọc Th, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: ấp M, xã N, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Gang – có đơn xin xét xử vắng mă ̣t.

2.Bị đơn: anh Phạm Văn C, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: ấp M, xã N, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang – có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 16 tháng 9 năm 2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Ngọc Th trình bày: Do quen biết và tim hiểu, nên năm 2004 chị và anh C được hai gia đinh tổ chứ c lễ

̀

̀ cướ i và chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn. Thờ i gian đầu hai ngườ i sống ha ̣nh phúc, cho đến năm 2008 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh C nhiều lần ăn nhâ ̣u về đánh đâ ̣p, hành hạ, vì không chi ̣u nổi nên chi ̣ Th đa bõ ̉ nhà đi làm ở Binh Dương. Sau đó anh C năn

̀ nỉ nên năm 2017 chị trở về chung sống cho đến năm 2017 thì anh C lại tính nào tật nấy , thườ ng xuyên đi nhâ ̣u về kiếm chuyê ̣n đánh đâ ̣p , nên năm 2018 chị tiếp tục bỏ nhà và vợ chồ ng sống ly thân từ đó đến nay . Nhâ ̣n thấy tinh

̀ cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tu ̣c chung sống được nữa, nên chi ̣ Th yêu cầu được ly hôn vớ i anh C .

Chị Th và anh C có 03 con chung tên: Phạm Văn T , sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thị Kim S, sinh ngày 16/8/2017. Hiê ̣n các cháu do anh C đang nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đồng ý giao cho anh C được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng 03 con chung chi ̣ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Văn C trình bày: anh và chi ̣ Th chung sống vớ i nhau từ năm 2007,và sống cùn g vớ i cha me ̣ ruô ̣t của anh C tại xã N , huyê ̣n Ti ̣nh Biên, nhưng không có đăng ký kết hôn . Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm và do kinh tế gia đinh quá kh ó khăn nên cách đây khoảng 3-

̀

4 năm thi chi ̣ Th bỏ nhà đi cho đến nay . Nay chi ̣ Th yêu cầu được ly hôn thì

̀ anh C cũng đồng ý, bở i vi tinh cảm vợ chồng không còn , không thể hàn gắn

̀ ̀ đoàn tu ̣ được

Về con chung : có 03 con chung tên: Phạm Văn T , sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thị Kim S, sinh ngày 16/8/2017, hiện các con chung do anh C đang nuôi dưỡng. Ly hôn anh C yêu cầu được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng các con chung , không yêu cầu chi ̣ Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, và nợ chung: Không có

Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị Th và anh C đoàn tu ̣ nhưng không thành. Chị Th và anh C cùng có yêu cầu xin xét xử vắng mă ̣t,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Ti ̣nh Biên tỉnh An Giang phát biểu:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử cũng như Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

- Về đề xuất hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố không công nhận chị Phạm Ngọc Th và anh Phạm Văn C là vợ chồng

+ Công nhận sự thỏa thuận của chị Th và anh C về việc giao cho anh C được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thị Kim S, sinh ngày 16/8/2017; chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập.

+ Đương sự phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

Chị Th có yêu cầu xin ly hôn với anh C hiện có địa chỉ cư trú và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 18, M, xã N , huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, theo qui định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Th và anh C cùng có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo qui định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về nội dung

[2.1].Quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007, nhưng không đăng ký kết hôn.

Theo chi ̣ Phạm Thị Th thì nguyên đơn dẫn đến viê ̣c chi ̣ xin ly hôn anh C là do anh C thườ ng xuyên đi ăn nhâ ̣ u về kiếm chuyê ̣n đánh đâ ̣p , hành hạ chị.

Anh Pha ̣m Văn C thì cho rằng nguyên nhân dẫn đến phát sinh mâu

thuẫn vợ chồng do cuô ̣c sống bất đồng quan điểm và do hoàn cảnh kinh tế của gia đinh anh quá kho khăn nên chi ̣ Th đa bõ ̉ nhà ra đi . Chị Th có yêu cầu ly

̀ hôn thi anh C cũng đồng ý vì xét thấy tình cảm vợ chồng không còn.

̀

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì :“ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”,và theo khoản 2 Điều 53 qui định“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Th đối vớ i anh Pha ̣m Văn C không được chấp nhận mà Tòa án tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C là vợ chồng.

[2.2].Về con chung: chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C có 03 con chung tên Phạm Văn T , sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T 1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thi ̣ Kim S , sinh ngày 16/8/2017, hiện các con chung do anh C đang nuôi dưỡng . Ly hôn chi ̣ Th và anh C tự nguyện thỏa thuận giao cho anh C được tiếp tu ̣c nuôi d ưỡng chăm sóc con chung, và tại Bản tự khai ngày 16/02/2022 cháu Phạm Văn T, sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thi ̣ Kim T1, sinh ngày 30/8/2012 cùng có ý kiến nếu cha me ̣ ly hôn thi nguyên vo ̣ng được

̀ sống chung vớ i cha là ông Cườ ng . Do vâ ̣y,viê ̣c tự nguy ện thỏa thuận nuôi dưỡng con chung của chi ̣ Th và anh C là phù hợp pháp luật nên được công nhâ ̣n.

Việc nuôi dạy con không cố định, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C cùng xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết , nên không đề câ ̣p.

[3].Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Th khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo mức án phí không giá ngạch, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Đề nghi ̣ của Viê ̣n Kiểm sát phù hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Hô ̣i đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên bố không công nhận chị Phạm Thị Th và anh Pha ̣m Văn C là vợ chồng.

Về con chung : Công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n của chị Phạm Thị Th và anh Phạm Văn C về viê ̣c giao các con chung tên Phạm Văn T , sinh ngày 25/01/2008, Phạm Thị Kim T 1, sinh ngày 30/8/2012 và Phạm Thị Kim S, sinh ngày 16/8/2017 cho anh Pha ̣m Văn C được tiếp tu ̣c nuôi dưỡng chăm sóc, chị Phạm Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: chị Phạm Thị Th chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn ) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005834, ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, như vậy chị Th đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ