vanban.org

Bản án 14/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 03/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Phúc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2021. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy : 0,42 gam ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành mặt trước phong bì có ghi:“ Vật chứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phúc T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HSST
Ngày 03 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải và ông Nguyễn Quang H

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Hoàng Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021 tại Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/HSST ngày 06/4/2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021, đối với:

Bị cáo: Lê Phúc T, sinh ngày 02 tháng 09 năm 1963 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ 3, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Phúc L và bà Phan Thị T; có vợ là Lê Thị B và 02 con; con lớn sinh năm 1991; con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 27 tháng 01 năm 2021; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Xuân P, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái; có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ 8, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Phúc T là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 11 giờ ngày 27 tháng 11 năm 2020, T đến khu vực tổ dân phố H, phường H, thành phố Y mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói ma túy loại Heroine với giá 850.000đồng (Tám trăm năm mươi nghìn đồng). T mang số ma túy mua được về phòng trọ của T thuộc tổ 8, phường Y, thành phố Y mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì vào hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày bị tổ công tác Công an thành phố Yên Bái bắt quả tang. T tự giao nộp 02 gói ma túy được gói bằng giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel số thuê bao 0989.883.665 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số thuê bao 0834.883.665, 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Phúc T, 01 ví da màu nâu đen.

Khám xét nơi ở của Nguyễn Phúc T, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 gói ma túy được gói bằng túi nilon màu trắng, 01 ví da màu nâu và 3.530.000đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận giám định số 111/GĐMT ngày 03/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Phúc T tự giác giao nộp trong phong bì thứ nhất có khối lượng là: 0,24gam ma túy loại Heroine.

- Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Phúc T trong phong bì thứ hai có khối lượng là: 0,31gam ma túy loại Heroine.

Cáo trạng số: 15/CT-VKS-TP ngày 05/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Lê Phúc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Phúc T từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Phúc T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và đánh giá. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 27/01/2020 Lê Phúc T đã có hành vi mua 0,55 gam ma túy loại Heroine của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ tại khu vực tổ dân phố Hồng Phú, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố bắt quả tang và khám xét. Hành vi của bị cáo Lê Phúc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Phúc T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ và lên án. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo Lê Phúc T là người có sức khỏe, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, thì mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội . Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Phúc T do không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

Đối với: 0,24gam ma túy loại Heroine do Lê Phúc T tự giác giao nộp, Cơ quan giám định đã trích 0,07 gam giám định, còn lại 0,17 gam ma túy loại Heroine; 0,31gam ma túy loại Heroine thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lê Phúc T Cơ quan giám định đã trích 0,06gam giám định còn 0,25 gam ma túy loại Heroine. Số ma túy sau khi trích mẫu giám định còn lại là: 0,17 gam ma túy loại Heroine + 0,25 gam ma túy loại Heroine = 0,42 gam ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Yên Bái phát hành. Đây là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 (hai) mảnh giấy bạc (một mặt màu trắng, một mặt màu vàng); 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ bơm kim tiêm, 01 ví da màu nâu đen đã qua sử dụng, 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong là vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc có nhãn hiệu Itel số thuê bao 0989.883.665 và 01 chiếc có nhãn hiệu Iphone số thuê bao 0834.883.665, 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Phúc T, 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng và số tiền 3.500.000đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) là những đồ vật tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Phúc T, Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao cho anh Lê Xuân P (con ruột bị cáo Lê Phúc T) bảo quản cất giữ là phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Phúc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2021.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy : 0,42 gam ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành mặt trước phong bì có ghi:“ Vật chứng thu giữ của Lê Phúc T tại tổ 8, phường Yên Thịnh, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, ngày 27/01/2021 (sau khi đã trích mẫu giám định) mặt sau các mép được dán kín có tên chữ ký và bốn dấu hình tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an, tỉnh Yên Bái; 02 (hai) mảnh giấy bạc (một mặt màu trắng, một mặt màu vàng) ; 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ bơm kim tiêm, 01 ví da màu nâu đen đã qua sử dụng, 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong.

4. Về án phí: Bị cáo Lê Phúc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Phúc T, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Xuân P được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ