- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HSST Ngày: 07-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn;
2. Bà Đinh Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày: 09/10/1994, tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm 11, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: công giáo; con ông Nguyễn Văn Th và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: (1) ngày 23/01/2019 bị UNBD xã H, huyện K dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 23/4/2019; (2) ngày 21/6/2019, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 21/12/2020; bị tạm giữ từ ngày 12/01/2021 đến ngày 16/01/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay. (có mặt).
- Người làm chứng: ông Phạm Văn Tr. (vắng mặt)
- Người chứng kiến: ông Đoàn Ngọc A. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 12/01/2021, tổ công tác Công an thành phố Tam Điệp đi đến đoạn đường quốc lộ 12B thuộc tổ 1, phường Bắc Sơn yêu cầu kiểm tra hành chính đối với một người nam thanh niên. Người này chấp hành khai tên là Nguyễn Văn S và không xuất trình được giấy tờ tùy thân. Đồng thời, S giao nộp một vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc, ở kẽ giữa vỏ nilon và vỏ bao thuốc có 01 gói nhỏ, bọc bên ngoài giấy bạc màu trắng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, S khai nhận đấy là Heroine mang theo để sử dụng. Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong gói giấy bạc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn S. Ngoài ra, còn thu giữ của Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0867.085.080 và số tiền 29.000 đồng. Sau đó đưa về trụ sở Công an phường Bắc Sơn làm việc.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận sáng ngày 12/01/2021 đi xe ôm từ huyện Kim Sơn lên thành phố Tam Điệp đi mua ma túy của một người không quen biết với giá 200.000 đồng. Gói ma túy được bọc bên ngoài bằng giấy bạc, bỏ ở kẽ giữa túi nilon và vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S và kí hiệu M gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 126/KLGĐ-PC09-MT ngày 15/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3032 gam, là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 17 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 17 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ 12/01/2021.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 (một) phong bì giấy gián kín niêm phong, bên ngoài ghi: 01 phong bì giấy xé rách một đầu dùng để niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số 126/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Văn S, SN 1994; trú tại xã Hùng Tiến, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,2230 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn S. Trả lại cho bị cáo số tiền 29.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trài phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng ông Phạm Văn Tr trình bày: ông thấy Nguyễn Văn S cất giữ 01 gói bọc giấy bạc màu trắng ở kẽ giữa vỏ nilon và bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc. S khai nhận, gói nhỏ là Heroine mang theo để sử dụng.
Người chứng kiến ông Đoàn Ngọc A trình bày: ngày 12/01/2021, ông được Công an mời chứng kiến việc kiểm tra đối với Nguyễn Văn S, diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/01/2021 (BL21 đến BL24), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL26), Kết luận giám định số 126/KLGĐ-PC09-MT ngày 15/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL29) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 12/01/2021, bị cáo Nguyễn Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3032 gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Để ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy, cần có những biện pháp cứng rắn, thiết thực và hữu hiệu. Một trong những biện pháp hữu hiệu đó là xử lý hình sự thật nghiêm minh đối với loại tội phạm này. Mặc dù vậy, bị cáo Nguyễn Văn S đã cố tình làm ngơ, bất chấp và coi thường pháp luật lao vào con đường phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân xấu. Bị cáo phạm tội trong thời gian đang có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0867.085.080 là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp quản lý gồm: 01 (một) phong bì giấy gián kín niêm phong, bên ngoài ghi: 01 phong bì giấy xé rách một đầu dùng để niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số 126/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Văn S, SN 1994; trú tại xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,2230 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn S. Trong đó, số ma túy là vật cấm lưu hành, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 29.000 đồng đã chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai nhận mua của một người thanh niên không quen tại tổ 1, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp. Do vậy không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/01/2021.
2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì giấy gián kín niêm phong, bên ngoài ghi: 01 phong bì giấy xé rách một đầu dùng để niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc;
- 01 phong bì giấy dán kín niêm phong, bên ngoài ghi số 126/KLGĐ-PC09-MT, vụ Nguyễn Văn S, SN 1994; trú tại xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, xảy ra ngày 12/01/2021 tại phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,2230 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;
- 01 phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn S.
(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/3/2021 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
+ Trải lại cho bị cáo số tiền 29.000 đồng (hai mươi chín nghìn đồng).
(Số tiền đã được chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo ủy nhiệm chi lập ngày 22/3/2021).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghin đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 07/4/2021.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Bích Hồng |