- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Go C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lỳ Go C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HSST Ngày: 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Pờ Pó Chừ.
Ông: Nguyễn Xuân Định.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2021/TL-ST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo.
- Lỳ Go C: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1977; Nơi sinh: huyện Mường N, tỉnh Điện B; Nơi ĐKHKTT: Bản Gò C, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Hà Nhì; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: không; Con ông Lỳ Hu C (đã chết) và con bà Chang Thị T, sinh năm 1959; Vợ: Pờ Ý M, sinh năm 1976; Con: có 05, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị tạm giữ từ ngày 25/6/2021 đến ngày 04/7/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lỳ Go C: Ông Lê Mạnh Hùng là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Pờ Ý M, sinh năm 1976; Nơi cư trú tại: Bản Gò C, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/6/2021, Lỳ Go C điều kiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 27B1 - 968.06 đi sang huyện Mường N, tỉnh Điện B mục đích tìm mua thuốc phiện để sử dụng, khoảng 12 giờ 00 phút thì đến khu vực bản Phứ M, xã Lèng Su S, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, qua trao đổi, C hỏi mua được của người đàn ông này 01 (một) gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có chứa 05 (năm) gói Thuốc phiện đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng, sau đó C giấu gói thuốc phiện vào trong lỗ hậu môn rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà. Đến hồi 12 giờ 20 phút cùng ngày 25/6/2021 khi C đi đến khu vực bản Phìn K, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C thì gặp tổ công tác đồn biên phòng Mù C đang làm nhiệm vụ, yêu cầu C dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra C đã lấy từ trong lỗ hậu môn ra 01 (một) gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có chứa 05 (năm) gói Thuốc phiện đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, tại đây C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 79/KLGĐ ngày 26/6/2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc Lê Văn Hưng thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: Tổng khối lượng 05 gói vật chứng thu giữ của Lỳ Go C là 2,2 gam.
Tại kết luận giám định số: 574/GĐ-KTHS ngày 29/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 05 (năm) mẫu chất dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc (ký hiệu từ gói 01 đến gói 05) gửi giám định là ma túy, loại thuốc phiện.
Tại bản cáo trạng số: 80/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Lỳ Go C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Lỳ Go C về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Go C từ: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+. Tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lỳ Go C.
+. Trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ, đen, biển kiểm soát 27B1 - 968.06, dung tích Xy-lanh 110 cm3, có số khung B950AY063925, số máy 5B95063927, xe đã qua sử dụng và 01 (một) chìa khóa của xe máy trên cho gia đình bị cáo.
- Về án phí: Do bị cáo Lỳ Go C là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng chính phủ. Do vậy, miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Pờ Ý M, trình bày: Chị không biết việc chồng mình là bị cáo Lỳ Go C đi mua chất ma túy ở đâu, với ai. Đối với chiếc xe máy mà C sử dụng để đi mua ma túy thì là tài sản chung của vợ chồng, được mua bằng tiền bảo vệ rừng hàng năm của gia đình, đây là tài sản duy nhất dùng làm phương tiện đi lại phục vụ cho nhu cầu sản xuất, đời sống của gia đình, chị yêu cầu cơ quan tố tụng và Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy này cho chị, ngoài ra chị không có đề nghị, yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số dân tộc Hà Nhì, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 12 giờ 20 phút ngày 25/06/2021, tại khu vực đường liên xã thuộc địa phận bản Phìn K, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lỳ Go C đang có hành vi tàng trữ trái phép 05 (năm) gói thuốc phiện được gói bằng mảnh nilon màu trắng có tổng khối lượng là 2,2 gam mục đích là để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lỳ Go C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số Hà Nhì, không có trình độ học vấn, nhận thức pháp luật hạn chế, sinh sống ở xã Mù C, huyện Mường T, là xã biên giới có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được áp dụng cho bị cáo.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân bị cáo Lỳ Go C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên lấy vợ ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, bản thân là người sử dụng chất ma túy, không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện, bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiếu số Hà Nhì, nghề nghiệp làm ruộng, không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo của xã Mù C, huyện Mường T, là xã biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Vật chứng của vụ án là: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lỳ Go C.
- Đối với chiếc 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ, đen, biển kiểm soát 27B1 - 968.06, dung tích Xy-lanh 110 cm3, có số khung B950AY063925, số máy 5B95063927, xe đã qua sử dụng và 01 (một) chìa khóa của xe máy trên, mà bị cáo Lỳ Go C sử dụng vào việc đi mua chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa đã xác định được đây là tài sản chung của gia đình bị cáo và người quản lý hợp pháp của tài sản là chị Pờ Ý M (vợ của bị cáo). Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, nên cần trả lại chiếc xe máy này cho người quản lý hợp pháp là chị Pờ Ý M, sinh năm 1976, trú tại: Bản Gò C, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C.
. Về án phí: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiếu số Hà Nhì, bản thân không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo của xã Mù C, huyện Mường T, là xã biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lỳ Go C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán thuốc phiện với giá 100.000 đồng cho bị cáo Lỳ Go C. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Lỳ Go C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lỳ Go C: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ ngày 25/06/2021 đến ngày 04/07/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+. Tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lỳ Go C.
+. Trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ, đen, biển kiểm soát 27B1 - 968.06, dung tích Xy-lanh 110 cm3, có số khung B950AY063925, số máy 5B95063927, xe đã qua sử dụng và 01 (một) chìa khóa của xe máy trên, cho người quản lý hợp pháp của tài sản là chị Pờ Ý M (vợ của bị cáo), sinh năm 1976, trú tại: Bản Gò C, xã Mù C, huyện Mường T, tỉnh Lai C.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng chẵn) cho bị cáo Lỳ Go C.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại tạm giam; - Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |