- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Lê Viết T cùng các đồng phạm "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-ST Ngày: 14 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiết Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công Ki theo thủ tục rút gọn đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 15/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Lê Viết T, sinh ngày 12/02/1976 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm X, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Giám đốc doanh nghiệp tư nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (đã chết) và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1956; có vợ là Hồ Thị Bích N, sinh năm 1976; có 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 01/02/2016 bị cáo bị Công an tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính 7.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo tại ngoại, có mặt phiên tòa.
2. Trần Công T, sinh ngày 16/4/1974 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Giám đốc doanh nghiệp tư nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1976; có 02 con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt phiên tòa.
3. Hồ Công K, sinh ngày 15/4/1966 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm 3 B, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Cán bộ thanh tra huyện Đ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ T và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1972; có 03 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2012). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt phiên tòa.
4. Phan Tư D, sinh ngày 15/4/1976 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố B, phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Phó Chi cục trưởng - Chi cục Thuế huyện Đ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan D (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1939; có vợ là Lê Thị Thanh H, sinh năm 1977; có 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt phiên tòa.
5. Dương V, sinh ngày 02/02/1968 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm X, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Trưởng phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Đ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương C, sinh năm 1941 và bà Dương Thị C, sinh năm 1947; có vợ là Bùi Thị T, sinh năm 1973; có 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1987; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/02/2021, Dương V, Phan Tư D, Hồ Công K đến nhà của Lê Viết T để chúc tết. Trong lúc các bị can đang ngồi uống trà thì có Trần Công T và anh Hoàng Văn S đến chúc tết gia đình T. Quá trình ngồi chơi thì T, V, D, K, T rủ nhau đánh bài xì tố (xì tẩy) thắng thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. T đến quán tạp hóa gần nhà mua 01 bộ bài Tú lơ khơ, sau đó lấy 01 chiếc chiếu, 01 cái chăn và 01 cái dĩa (là những vật dụng sinh hoạt trong gia đình T) để sử dụng cho việc đánh bạc. T, D, V, K, T ngồi đánh bạc với mức độ thắng thua mỗi ván được quy định mức tố 01 người thấp nhất từ 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng trong 01 ván đánh. Riêng anh Sỹ ngồi xem không tham gia đánh bạc.
Vị trí đánh tại tầng trệt nhà T, vị trí các đối tượng ngồi cụ thể như sau: Vị trí số 01 là T, tiếp theo bên phải T là T, ngồi phía bên phải T là K, kế tiếp bên phải K là V, bên phải V là D.
Cách thức đánh xì tố và cách tính thắng thua được quy ước như sau:
Bộ bài Tú lơ khơ 52 quân bài được chọn lấy 28 quân gồm: 8, 9, 10, J, Q, K, A đủ các chất cơ, rô, chuồn, bích, độ lớn của các quân bài được tính theo giá trị nhỏ đến giá trị lớn lần lượt là từ 8, 9, 10, J, Q, K, A khi đánh bạc một người tráo bài rồi chia cho 05 người, mỗi người gồm 02 quân, trong đó có 01 quân bài ngữa và 01 quân bài sấp (quân bài sấp gọi là quân bài ẩm). Số quân bài còn lại được đặt sấp trên 01 cái dĩa trên 01 cái chiếu bạc. Sau khi chia bài xong, người nào có quân bài ngữa có giá trị lớn nhất thì được quyền tố tiền trước, những người chơi còn lại theo thứ tự từ trái sang phải sẽ tham gia đặt cược theo, tố thêm tiền hoặc bỏ ván đánh. Một người chơi có thể tố cao nhất là 200.000 đồng trong một ván đánh, khi người tham gia chơi bắt đủ tổng cộng 05 quân bài thì sẽ mở quân bài ẩm để so sánh thắng thua, người nào có 05 quân bài có giá trị lớn nhất sẽ thắng, số tiền thắng là toàn bộ số tiền mà những người chơi đã đặt cược trong ván đánh đó rồi tiếp tục chia bài để đánh ván tiếp theo.
Cách thức tính thắng thua được tính từ cao xuống thấp được quy ước với nhau như sau:
- Tứ quý: Gồm 04 quân bài có kí tự giống nhau nhưng khác chất và 01 quân bài khác. Ví dụ: 8 cơ, 8 rô, 8 chuồn, 8 bích và 9;
- Đồng hoa (thùng): Gồm 05 quân bài cùng chất cơ, rô, chuồn hoặc bích. Ví dụ: 8 cơ, 10 cơ, J cơ, K cơ, A cơ;
- Suốt (sảnh): Gồm 05 quân bài có thứ tự liên tiếp nhau tính từ 10, J, Q, K, A. Ví dụ: 10 cơ, J rô, Q cơ, K chuồn, A bích;
- Cù lủ: Gồm 03 quân bài có kí tự giống nhau, khác chất và 02 quân bài khác có kí tự giống nhau và khác chất. Ví dụ: 8 cơ, 8 rô, 8 bích, 9 rô, 9 chuồn;
- Sam: Gồm 03 quân bài có kí tự giống nhau nhưng khác chất và 02 quân bài còn lại khác nhau. Ví dụ: 8 cơ, 8 rô, 8 bích, 9 rô, 10 chuồn;
- Hai đôi (thú): Gồm 02 cặp quân bài có kí tự giống nhau nhưng khác chất và 01 quân bài khác. Ví dụ: 8 cơ, 8 rô, 9 bích, 9 rô, 10 chuồn;
- Một đôi: Gồm 02 quân bài có kí tự giống nhau nhưng khác chất và 03 quân bài còn lại không giống nhau. Ví dụ: 8 cơ, 8 rô, 9 bích, 10 rô, J chuồn;
- Nếu 05 quân bài không liên kết với nhau thì tính thắng thua theo giá trị của các quân bài. Ví dụ: 8 chuồn, 10 cơ, J bích, Q chuồn, A rô.
Các bị cáo đánh đến 21 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Phòng cảnh sát Hình sự-Công an tỉnh Quảng Trị bắt quả tang và yêu cầu trở về tại vị trí ngồi đánh bạc và đưa số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc ra giữa sòng bạc. Giữa chiếu bạc có 01 dĩa, 28 quân bài Tú lơ khơ và một số loại tiền Polyme các bị cáo tự nguyện đưa ra.
Số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc gữa chiếu bạc và trong người con bạc tổng cộng là 22.900.000 đồng.
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu gữ trong người các con bạc số tiền 89.800.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã trả lại cho các bị cáo.
Tổng số tiền 05 bị cáo trên sử dụng để dánh bạc là 22.900.000 đồng. Trong đó số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 12.600.000 đồng, thu giữ trong người số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.300.000 đồng.
Quá trình điều tra đã làm rõ số tiền các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc cụ thể như sau:
- T sử dụng 3.800.000 đồng để đánh bạc, không thắng, không thua. Khi bắt thu giữ 3.800.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc trước mặt T là 600.000 đồng và trong túi quần phía trước là 3.200.000 đồng;
- V sử dụng 4.500.000 đồng để đánh bạc, thắng 2.400.000 đồng. Khi bắt thu giữ 6.900.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc trước mặt V là 4.800.000 đồng và trong túi quần phía trước là 2.100.000 đồng;
- D sử dụng 4.600.000 đồng để đánh bạc, đánh thua 3.500.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ là 1.100.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc phía trước mặt D là 200.000 đồng và trong túi quần phía trước là 900.000 đồng;
- T sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.400.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ là 6.400.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc trước mặt T là 4.400.000 đồng và trong túi quần phía trước là 2.000.000 đồng;
- K sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, thua 300.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ 4.700.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc phía trước mặt K là 2.600.000 đồng và trong túi quần phía trước là 2.100.000 đồng.
Quyết định truy tố số 14/QĐ-VKS-P2 ngày 31/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị: Về trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Lê Viết T áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng; Trần Công T áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; Hồ Công K áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; Phan Tư D áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; Dương V áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS. Tịch thu tiêu hủy: 28 quân bài Tú lơ khơ có ký tự từ: 8, 9, 10, J, Q, K, A; 01 đĩa nhựa có hình tròn màu trắng, đường kính 12cm, bên trong có dòng chữ “KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP KIỂM LÂM QUẢNG TRỊ 1974 - 2014. Kính tặng”; 01 chăn vải màu đen - xám, kích thước 195 x 150 cm; 01 chiếu nhựa màu xanh, trắng, kích thước 210 x 163 cm. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 22.900.000 đồng mà các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời Ki nhận hành vi của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 19/02/2021 trong khi các bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K đang thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, bằng hình thức đánh xì tố (xì tẩy) tại nhà của Lê Viết T thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Quảng Trị bắt quả tang, thu giữ số tiền đánh bạc là 22.900.000 đồng. Thấy rằng, Quyết định truy tố các bị cáo T, V, D, T, K về tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng trong cuộc sống cộng đồng dân cư, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
. Xét vai trò của các bị cáo, số tiền tham gia đánh bạc và quá trình nhân thân thấy rằng:
Lê Viết T là bị cáo có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người đi mua bài, chuẩn bị chiếu, chăn, đĩa và đồng ý để các bị cáo đánh bạc ngay tại nhà mình; bị cáo cũng đã từng bị xử phạt hành chính về cùng hành vi đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt cao hơn so với các bị cáo còn lại.
Đối với các bị cáo tham gia đánh có vai trò thấp hơn, trong đó Trần Công T và Hồ Công K mỗi bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng; Phan Tư D đánh bạc với số tiền 4.600.000 đồng; Dương V đánh 4.500.000 đồng. Xét tính chất, mức độ của các bị cáo trong vụ án thì chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: “thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, riêng Lê Viết T không áp dụng tình tiết “ăn năn hối cải”, các bị cáo được hưởng tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Phan Tư D được Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen, các năm 2017, 2020 là Chiến sỹ thi đua cơ sở là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Trần Công T có mẹ là người có công; các bị cáo Hồ Công K, Dương V quá trình công tác được tặng nhiều Giấy khen là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc 22.900.000đồng.
Đối với các vật chứng mà bị cáo Lê Viết T sử dụng để các bị cáo đánh bạc gồm: 28 quân bài Tú lơ khơ có kí tự từ: 8, 9, 10, J, Q, K, A; 01 đĩa nhựa có hình tròn màu trắng, đường kính 12cm, bên trong có dòng chữ “ KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP KIỂM LÂM QUẢNG TRỊ 1974-2014. Kính tặng”; 01 chăn vải màu đen - xám, kích thước 195 x 150 cm; 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng, kích thước 210 x 163 cm xét thấy các vật chứng này có giá trị sử dụng thấp nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
. Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K phạm tội: “Đánh bạc”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Lê Viết T: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng);
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt:
Bị cáo Trần Công T: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng);
Bị cáo Hồ Công K: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng);
Bị cáo Dương V: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng);
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS xử phạt bị cáo Phan Tư D: 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng);
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 22.900.000 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng);
* Tịch thu tiêu hủy:
- 28 quân bài Tú lơ khơ có kí tự từ: 8, 9, 10, J, Q, K, A;
- 01 đĩa nhựa có hình tròn màu trắng, đường kính 12cm, bên trong ghi dòng chữ “KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP KIỂM LÂM QUẢNG TRỊ 1974-2014. Kính tặng”;
- 01 chăn vải màu đen - xám, kích thước 195 x 150 cm;
- 01 chiếu nhựa màu xanh - trắng, kích thước 210 x 163 cm.
(Vật chứng trên hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2021)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Viết T, Dương V, Phan Tư D, Trần Công T, Hồ Công K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND CC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; (PC02) - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Các bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thiết Hùng |