vanban.org

Bản án 14/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà Công T và Bùi Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Hà Công T 15 (Mười lăm) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án. Xử phạt: Bùi Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Công T cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Công T và Bùi Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HS-ST
Ngày 23 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Nhất

2. Ông Đỗ Ngọc Phan

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2021/TLST-HS ngày 09/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 10/3/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Công T, sinh năm 1994, tại xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Công K, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị Y, sinh năm 1963; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2021 đến ngày 29/01/2021 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Bùi Văn Q, sinh năm 1993, tại xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K1, sinh năm 1965 và bà Quách Thị Đ, sinh năm 1965; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2021 đến ngày 29/01/2021 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá (có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng: Bùi Văn K1, sinh năm 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 23/01/2021 tổ công tác thuộc Công an huyện Nông Cống đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thôn M, xã V, huyện Nông Cống thì phát hiện và bắt quả tang Hà Công T và Bùi Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại tay trái của Hà Công T 01 tép (gói) nhỏ, T khai là hêrôin. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Sau đó đưa các đối tượng về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nông Cống để tiếp tục điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra Hà Công T và Bùi Văn Q khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/01/2021 do muốn sử dụng ma túy nên T đã cùng với Q đi xe mô tô BKS 36B5 - 207.05 (là xe của ông Bùi Văn K1, bố đẻ của Q) xuống huyện Nông Cống để mua ma túy, Quý đưa cho T 200.000đ. Khi đi đến khu vực ngã ba C thuộc thị trấn C thì gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi có ma túy không, bán cho 01 tép với giá 200.000đ thì được người này đồng ý bán. Mua ma túy xong T và Q đi về đến thôn M, xã V thì bị bắt quả tang.

Ngày 25/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nông Cống ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 phong bì đựng mẫu vật bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà nghi là hêrôine thu giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 615/PC09 ngày 25/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột dạng cục vụn, màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,198g loại hêrôin.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T và Q Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông như T và Q miêu tả. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nông Cống không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B5 - 207.05 là phương tiện Bùi Văn Q dùng để đi mua hêrôine là xe của ông Bùi Văn K1 (bố đẻ của Q). Ông K1 không biết Q dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nông Cống đã trả lại cho ông K1.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 08/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hà Công T và Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với cả hai bị cáo, xử phạt Hà Công T và Bùi Văn Q mức án từ 15 đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của CQĐT Công an huyện Nông Cống và Điều tra viên; của VKSND huyện Nông Cống và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được: Vào khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 23/01/2021 tại M, xã V, huyện N, Tổ công tác Công an huyện Nông Cống phát hiện và bắt quả tang Hà Công T và Bùi Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,198g (Không phẩy một chín tám gam) ma túy, loại hêrôin, qua đấu tranh T và Q khai do muốn sử dụng ma túy nên T đã cùng với Q đi mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng nhưng khi về đến Phố M, xã V thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại CQĐT, phù hợp với tang vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác. Ma tuý cũng là một trong những nguyên nhân gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi tàng trữ trái phép 0,198g (Không phẩy một chín tám gam), loại hêrôine (theo kết luận giám định) của Hà Công T và Bùi Văn Q là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, mặc dù các bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với các bị cáo là chính xác.

Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước mà do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T và Q đã cùng thống nhất ý chí và cùng nhau đi mua ma túy về để sử dụng. Khi đến khu vực ngã ba C thuộc thị trấn C, huyện N, T đưa 200.000đ cho Q, Q cầm tiền và đến gặp một người đàn ông không quen biết để hỏi mua ma túy. Vì vậy, các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện chất ma túy.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Hà Công T và Bùi Văn Q không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 Phong bì, niêm phong, do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong đựng 0,181g herôine mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; Điều 329 BLTTHS đối với cả hai bị cáo.

Tuyên bố các bị cáo Hà Công T và Bùi Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Hà Công T 15 (Mười lăm) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Xử phạt: Bùi Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.

Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Cống và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống lập ngày 08/02/2021.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Hà Công T và Bùi Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/3/2021).

Cỡ chữ